Khóa IX
Chỉ Tánh Giác
Lớp Căn Bản- Bài Đọc Thêm Số 1
KỸ THUẬT THỰC HÀNH
Mở Đầu
1. Dù tất cả chúng sinh đều có tánh giác và Phật tánh, tánh
giác và Phật tánh đó vẫn chưa trở thành hiện thực trong thân và tâm ta. Bởi vì
Phật tánh là tiềm năng giác ngộ vốn tiềm tàng bên trong chúng sinh. Tiềm
năng này đòi hỏi phải có sự tác động từ bên ngoài hay bên trong tâm mới đủ điều
kiện bật ra. Chính vì thế, loài người dù có Phật tánh, Phật tánh cũng nằm
im đâu đó trong tâm chúng ta. Loài thú dù cũng có Phật tánh, Phật tánh cũng
đành mai một trong chúng. Bởi vì cả hai đều thiếu điều kiện từ bên ngoài hay
bên trong tác động, nên Phật tánh không thể bật ra được.
Còn tánh giác cũng là một năng lực biết, tuy có sẵn
trong mỗi con người, nhưng nó không tự xuất hiện thường trực được. Chỉ vì con
người có thói quen sử dụng trí năng nên nó không thể có mặt. Điều này có nghĩa,
trong một trường hợp bất chợt nào đó, nó có mặt, nhưng vừa mới ló dạng, trí
năng liền xuất hiện làm cho nó bị che khuất. Thí dụ, sau khi ngủ một giấc dài
nơi lạ, vừa mở mắt ra, ta nhìn thấy cảnh tượng trước mặt. Sự nhìn thấy biết tức
khắc (this immediate visual awareness) này chính là chức năng của tánh thấy,
thuộc khu vực tánh giác. Nhưng liền theo đó, trí năng xen vào, niệm phân biệt
và nói thầm khởi lên. Ta có thể nêu câu hỏi: -- Đây là đâu ? Rồi một tràng niệm
suy nghĩ liên tục khởi ra. Ta cố nhớ lại không gian trước mặt là gì. Ta tự nói
với ta. "Đêm hôm qua mình ở đâu ?..." Niệm suy nghĩ và niệm ý thức
thay phiên nhau hoạt động. Mạng nhện niệm liền được giăng ra. Cùng ngay lúc đó,
tánh giác liền bị che khuất. Vì hễ có suy nghĩ, không có tánh giác. Có tánh
giác, không có suy nghĩ.
Cũng vậy, trong sinh hoạt hằng ngày tánh giác thường xuất
hiện mà ta không hề biết, chỉ vì năng lực của nó quá yếu. Nó luôn luôn bị năng
lực trí năng lấn át. Đó là những lúc ta lái xe, niệm biết tuy có mặt mà trong
đầu vẫn suy tính miên man những chuyện linh tinh khác; biết lặt rau, rửa bát mà
niệm nói thầm không bao giờ dứt; lặng lẽ bước chân đi trong thiền hành mà tâm
ngôn cứ khởi động...
Đây là hai điểm then chốt mà chúng ta cần chú ý.
2. Trước kia khi chưa học thiền, ta không nhận ra nguyên tắc
này. Sau khi đã học qua BA SẮC THÁI BIẾT, ta nhận rõ vai trò và chức năng của
tánh giác, suy nghĩ và ý thức. Ta có khả năng thực hành làm quán tính động của
trí năng tạm ngưng để tánh giác có mặt. Một khi nó có mặt, cuộc sống của ta
hoàn toàn đổi thay. Đó là những đổi thay thể chất (physical body), tâm lý, và
trí tuệ từ bên trong ta. Ấy chỉ vì nó ảnh hưởng đến hệ thống viền não, hệ đối
giao cảm thần kinh mà trong đó quan trọng bậc nhất là vai trò Dưới Đồi
(Hypothalamus) và hệ thống tuyến nội tiết (Phần này sẽ được học sau).
Cho nên, muốn Phật tánh hay tánh giác có mặt ta phải thực
hành theo những phương hướng của Thiền. Ta không thể ôm ảo tưởng "Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh" rồi ngồi đó trầm tư mặc tưởng (meditate)
chờ cho Phật tánh xuất hiện như chờ sung rụng.
Thực hành là một tiến trình đi về nhà. Không thực
hành, ta không bao giờ về đến nhà. Không thực hành ta không bao giờ có
kinh nghiệm an lạc chân thực. Cho nên, thực hành là trọng điểm của Thiền nói
chung, của Lớp 1 nói riêng.
3. Nhưng thực hành phải đúng pháp, đúng kỹ thuật. Nếu thực
hành không đúng pháp, không đúng kỹ thuật, kết quả sẽ mang lại bất lợi cho thân
và tâm. Trước hết là bệnh chấp trước, bệnh dính mắc, bệnh tham, sân, bệnh ngã
mạn. Sau đó là bệnh tâm thể. Cuối cùng là bệnh tâm tán loạn ngày càng trầm
trọng hơn, đưa đến vô minh ngày càng to lớn hơn. Đây là hậu quả của sự dụng
công sai lầm. Thay vì sử dụng tánh giác, ta lại sử dụng chức năng của ý thức và
suy nghĩ để tu tập. Bởi vì khi ý thức được sử dụng để dụng công, hệ giao cảm
thần kinh thường xuyên bị tác động. Nếu nó bị tác động với nỗ lực tối đa, các
chất nước hóa học gây bất lợi cho cơ thể từ bên trong nó liền được tiết ra để
đáp ứng nhu cầu nỗ lực tối đa của ta. Thí dụ như chất norepinephrine.
Chất này làm cho huyết áp gia tăng.
Đây là điểm then chốt thứ ba, chúng ta cần ghi nhớ.
4. Trong kỹ thuật lại có nhiều chiêu thức. Mỗi chiêu thức
thích hợp cho từng căn tánh (năng lực tiềm tàng: potentially: latent capacity
or latent power). Vì thế, khi áp dụng một kỹ thuật thực hành, ta phải trải qua
nhiều chiêu thức. Cuối cùng, ta lựa chọn chiêu thức nào thích hợp với căn tánh
ta nhất, ta áp dụng chiêu thức đó. Thí dụ, trong Chú Ý Trống Rỗng có nhiều
chiêu thức, như nhìn lướt, nhìn thẳng, nhìn chằm chằm, nhìn xa, ta chọn
chiêu thức nào phù hợp với cách thực tập của ta nhất, ta áp dụng cách đó. Nhưng
muốn biết phù hợp hay không, ta phải trải qua nhiều buổi áp dụng các chiêu
thức.
5. Tóm lại, dù tu theo loại Thiền nào: Nguyên Thủy, Phát
Triển và Thiền Tông (gồm Công Án, Thoại Đầu, Tri Vọng, Chỉ Tánh Giác), nếu biết
sử dụng cái vô sanh hay tánh giác để dụng công, kết quả ta sẽ đạt
được những ích lợi thiết thực cho việc quân bình thân, tâm và phát triển trí
huệ tâm linh. Nếu áp dụng sai, dù làm mòn vài chục chiếc bồ đoàn (tức gối ngồi
thiền), kết quả thân và tâm của ta cũng đi đến bệ rạc; chấp trước vẫn dai dẳng
đeo theo tâm ta khi ta có cơ hội giao tiếp với người khác; thần sắc của ta vẫn
không được trong sáng. Trí huệ tâm linh của ta cũng do đó không thể phát huy
được. Chỉ vì năng lực trí năng biện luận không bị kiểm soát nên trí sáng tạo từ
tánh giác không bị kích thích để hoạt động.
KỸ THUẬT THỰC HÀNH
Vấn đề quan trọng của Thiền là kỹ thuật thực hành chứ không
phải những nghĩa lý mô tả về những phần kỳ diệu của Thiền đối với thân, tâm và
trí huệ tâm linh. Nhiều người thực hành thiền vài mươi năm vẫn không biết làm
sao dừng được niệm khởi. Hễ vừa tọa thiền xong là vọng tưởng cũng theo đó
khởi lên liên tục, khi nhanh, khi chậm, khi ào ạt như từng cơn sóng vỗ vào bờ
biển. Càng cố gắng xua đuổi, vọng tưởng lại càng khởi lên. Bởi vì chính sự xua
đuổi vọng, từ trong bàn chất, nó cũng chính là vọng, nhưng thuộc loại vọng
tưởng mang bản chất thiện, chứ đâu phải nó là phương thức dẹp vọng. Cho nên
càng "xô vọng tưởng" này ra, vọng tưởng khác lại lù lù hiện đến. Đây
là một ý nghĩ sai lầm. Ấy chỉ vì vị đó không nhận ra được thực chất vọng tưởng
là gì. Nếu biết rõ vọng tưởng là sự nói thầm, thì ý niệm "xô vọng
tưởng" chính là vọng tưởng. Có chăng là dùng niệm thiện để đùa niệm ác đi,
nhưng thế vào đó ta lại có niệm khác. Như vậy, ta không thể lấy vọng thiện để
triệt tiêu vọng ác. Bởi vì khi vọng ác không khởi, thế vào đó là vọng thiện.
Như vậy, cuối cùng vọng vẫn hiện hữu trong tâm ta bằng sự nói thầm.
Vì thế, thay vì tu thẳng vào tánh giác bằng cách thực hành biết
không lời (nonverbal awareness or wordless awareness), vị ấy lại sử dụng
trí năng và ý thức bằng cách thực hành biết có lời (verbal knowledge).
Hoặc thay vì thực hành, vị ấy lại thích học thuộc lòng lý thiền. Từ đó, vị ấy
không làm sao đạt được không theo vọng hay làm chủ vọng, cũng không làm sao đạt
được cân bằng thân - tâm. Cuối cùng trí huệ tâm linh do đó cũng không thể phát
huy được.
Trên thực tế, lý thiền rất cần thiết cho người thực hành. Nó
là kim chỉ nam hay la bàn của thuyền trưởng. Không có nó, ta không biết lái con
tàu "nội tâm" của ta về hướng nào. Không có nó, ta không biết
"lối về nhà" phải bắt đầu khởi hành từ đâu, điểm cuối cùng là điểm
nào. Do đó, lý thuyết không phải là những câu nói để ta học thuộc lòng rồi hờ
hững việc dụng công. Vì vậy, dù thực hành thiền theo phương pháp nào, ta phải
nắm vững kỹ thuật thực hành. Nếu nắm vững chắc kỹ thuật thực hành, rồi sau đó
thường xuyên ứng dụng các chiêu thức, ta sẽ cải biến (convert) được tâm dính
mắc và chấp trước của ta. Dù tâm ta là một loại tâm bướng bỉnh (stubborned
mind), ta cũng không sợ khó khăn hàng phục (subdue) được nó. Ngộ đạo hay kiến
tánh sẽ không còn là vấn đề kỳ bí hay siêu hình đối với ta.
Dục vọng, đam mê (passions), chấp trước, dính mắc, trên thực
tế chúng chỉ là một loại quán tính hay một thứ ghiền, nghiện, mê say của tế bào
não mà bạn đã vô tình huấn luyện chúng từ hàng chục năm qua; biến chúng trở
thành tâm bạn. Chúng thúc đẩy bạn phải làm, phải bương chải, phải lo lắng, phải
đấu tranh, phải nói, phải suy nghĩ, phải suy luận, phải tạo ra những khái niệm
tư duy biện luận thiện, ác, phải dán nhãn hiệu các đối tượng, phải hoàn thành
các mục tiêu, các đòi hỏi mà các thứ ghiền, nghiện thúc đẩy. Từ đó bạn khó
tránh khỏi tạo nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp lành, nghiệp dữ. Cho dù bạn biết
bạn đương lao vào vòng luân hồi sinh tử, bạn cũng không làm sao thắng được
chiếc xe nghiệp lực đương lao vào hố sâu vọng tưởng.
Hằng chục năm qua chúng đã được bạn tập luyện tính ham
mê, say đắm, suy nghĩ, tính toán, tưởng tượng, thêu dệt vẽ vời, phân biệt, và
so sánh. Chúng đã được tẩm ướp các thứ dục lạc, các thứ kiến chấp, các thứ
ảo kiến, các thứ tưởng tượng, các thứ ào giác. Chúng đã được bạn vô tình huấn
luyện sống theo kiểu sống phàm tục. Chúng đã quen dính mắc. Chúng thích suy
nghĩ. Chúng thích lý luận. Chúng thích tranh luận, tranh chấp, thích nói, thích
gây chia rẽ, thích đố kỵ và gièm pha. Chúng thích tôn sùng thần tượng. Chúng
thích cá nhân chủ nghĩa. Đó là thích mình là số một. Chúng quen tự nói thầm.
Bây giờ bạn hãy huấn luyện chúng, làm cho chúng trở nên thuần. Hãy tạo cho
chúng có một quán tính mới -- quán tính yên lặng. Bạn nên tập cho chúng im
lặng. Một khi chúng có thói quen im lặng, bạn bắt đầu cải biến được chúng.
Đấy cũng là lúc bạn bắt đầu sống trong chân ngã, trong tánh giác. "Khoảng
trống vô niệm -- the gap of no thought" giữa hai niệm bắt đầu bao trùm tự
ngã. Đấy cũng chính là lúc mà tự ngã và tánh giác bắt đầu hội nhập.
Nếu tu Thiền mà bạn cứ huấn luyện tâm bạn phải tưởng tượng
và tưởng tượng; cứ suy nghĩ và suy nghĩ; cứ phân biệt và phân biệt; cứ tạo ra
ảo giác này đến ảo giác kia, đây là bạn đã tưới loại phân bón tưởng tượng,
suy nghĩ, phân biệt, và ảo giác vào gốc rễ tâm của bạn. Tự ngã không làm
sao lọt vào được chỗ trống của vô niệm. Tất nhiên, kết quả tâm của bạn sẽ mọc
thêm những "rễ hướng ngoại." Càng hướng ngoại, nó càng chạy theo
cảnh. Càng hướng ngoại, nó càng xa rời mái nhà xưa. Do đó, bạn không làm sao
kinh nghgiệm được chỉ (sự yên lặng tâm) và định (sự nhất tâm).
Thuật ngữ của các nhà Duy Thức gọi cách này là "xông ướp tập khí."
Phật giáo Nguyên Thủy gọi là "vun bồi lậu hoặc." Cho nên, càng vun
bồi lậu hoặc, càng xông ướp tập khí, tâm của bạn không làm sao được an tịnh
thật sự. Nó cứ di động -- di động không dừng. Ba nghiệp của bạn không
làm sao thanh tịnh. Ngôn hành, tâm hành, thân hành cứ động thường trực. Từ đó
bạn không làm sao chuyển hóa được tâm, cân bằng được thân và thăng hoa trí huệ
tâm linh.
Đây là điểm thứ tư bạn cần ghi nhớ.
KỸ THUẬT LÀ GÌ ?
Kỹ thuật là một phương tiện thiện xảo (phương tiện khéo léo,
phương tiện thành công: P: upāya: skillful means, means of success.) Nội
dung chủ yếu của nó là dạy ta những càch thực hành đặc biệt để đạt được mục
tiêu của pháp học trong từng giai đoạn. Nó là phần đặc biệt nằm trong pháp
hành. Trong Giáo lý không có đề cập đến nó. Giáo lý như chiếc bè, kỹ thuật như
mái chèo hay cây sào, chiêu thức như cách chèo, cách chống. Người giỏi Giáo lý
như là người có chiếc bè, nhưng không có cây sào hay dầm bơi, và cũng không
biết cách chèo, chống như thế nào để qua sông. Bờ bên kia tuy nhìn thấy, nhưng
vị ấy đành ngồi trên chiếc bè, thả trôi theo dòng nước; không biết cách làm sao
để đến được bờ bên kia.
Cho nên, người tinh thông Giáo lý chưa chắc gì là người đã
có kinh nghiệm pháp hành. Vị ấy có thể là một đại học giả Phật pháp, chứ không
phải là người đã có kinh nghiệm được pháp hành. Vì thế kỹ thuật cũng được xem
là phần kinh nghiệm của người đi trước truyền lại cho kẻ đi sau. Nếu ta biết
chấp nhận kỹ thuật, biết xem nó là một phương tiện tích cực có khả năng đưa đến
giác ngộ và giải thoát, nó sẽ giúp ta đốt được giai đoạn, thu ngắn được thời
gian dụng công. Thay vì mất 30 năm để thấy "núi sông là núi sông" như
Thiền sư Trung Hoa Duy Tín, đời Tống, ta có thể mất vài năm hay vài tháng cũng
kinh nghiệm được cái thấy như thật như ngài.
Đường "về nhà cũ" sẽ không còn mờ mịt đối với ta.
Trong Thiền có nhiều kỹ thuật. Tất cả kỹ thuật đều dựa trên
một trong bốn căn, gồm mắt, tai, thân, và ý căn để dụng công. Cho nên, nếu thực
sự quyết tâm đi vào con đường Thiền, ta phải nắm được kỹ thuật và những chiêu
thức của các kỹ thuật.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA THIỀN
Ta đã biết Thiền là một KHOA HỌC TÂM LINH. Tùy theo kinh
nghiệm của người thực hành, khoa học này có những mục tiêu:
1) Trên đại cương, Thiền có khả năng giúp con người đạt được
những mức độ: tỉnh thức, ngộ, nội chứng, đào thải tập khí hay lậu hoặc, tự tại
hay giải thoát (gồm giải thoát tâm, giải thoát tri kiến), không còn tái sinh
vào bất cứ cảnh giới nào trong vũ trụ, tức nhập Niết Bàn.
2) Nói theo Thiền tông, Thiền có khả năng giúp người thực
hành thiền "kiến tánh," bật ra vô sư trí, làm cho tánh giác
hiển lộ trong 4 oai nghi, hay phát triển tiềm năng giác ngộ, tức Phật tánh.
3) Nói một cách thiết thực, Thiền có khả năng giúp ta thành
tựu các mục tiêu:
·
Dẹp bỏ quán tính suy
luận của trí năng, tư duy nhị nguyên, và ý thức phân biệt;
·
Chấm dứt phiền não và
đau khổ trong đời này;
·
Làm cho tánh giác trở
thành một NĂNG LỰC BIẾT thường trực trong tự thân.
·
Khi năng lực biết trở
thành hiện thực, an lạc thực sự có mặt thường trực trong tâm ta. Cuộc sống của
ta và gia đình ta trở nên an vui và bình thường. Từ bi và trí huệ sẽ tròn đủ
trong ta.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG MỤC TIÊU
NÓI TRÊN ?
Muốn đạt được những mục tiêu nói trên, người thực hành thiền
phải hội đủ 5 yêu cầu cần thiết:
1) Trước hết là nhận định rõ giá trị thực tiễn của Thiền.
-- Đây là yêu cầu số 1. Không nhận định rõ, ta khó chấp nhận các phương
thức lý luận và kỹ thuật thực hành của Thiền. Ta sẽ tìm nhiều lý do để tránh né
hay bài xích Thiền. Bởi vì Thiền đi ngược dòng ham muốn của ta. Thiền đi
ngược cách nhìn, cách quan niệm của ta về tất cả hiện tượng trên thế gian.
Thiền đi ngược cách sinh hoạt thường ngày của ta.
Thiền chẳng những không đề cao tự ngã mà còn tìm cách làm
cho tự ngã không có mặt để nhường chỗ lại cho chân ngã. Thiền dẹp suy nghĩ, dẹp
tưởng tượng, dẹp khái niệm tư duy, dẹp dính mắc, dẹp sắn bìm tư tưởng, dẹp
những dính líu với thế giới bên ngoài, dạy ta chú ý trống rỗng, không dán
nhãn đối tượng, không định danh đối tượng. Đây là điều trái ngược với tự
tâm của ta. Ta thích đề cao tự ngã. Ta thích đưa ý thức vào trong sinh hoạt của
Thiền. Ta thích phóng tâm duyên theo ngoại cảnh. Ta thích sống bừa bãi. Ta
thích tạo ra những ảo giác ngôn từ. Ta thích đưa thế giới bên ngoài vào nội
tâm.
Ta thích ngồi lê đôi mách, thích hý luận (talking vainly or
idly), thích dính mắc. Thiền đả phá lối sống bàn chuyện thiên hạ, chuyện phải
trái; giữ tròn phẩm cách thiền gia. Ta thích sống bàn chuyện thiên hạ, thích phê
bình lén người, thích chụp mũ người, thích dán nhãn người,
thích lên án kẻ vắng mặt; không giữ đúng phẩm cách người con Phật.
Thiền dạy ta gìn giữ sáu căn bằng cách biết vô ngôn, ta cứ
phóng tâm duyên theo ngoại cảnh bằng cách buông thả ngôn hành trôi theo cách
biết của ý thức.
Thiền dạy ta sống biết đủ, nhớ đến tánh giác. Ta thích sống
xa hoa và bám chặt vào ý thức và ý căn.
Thiền dạy ta có lối nói từ "hông ngực," tức lối
nói từ sự "sáng đạo" của mình. Ta thích cóp nhặt, thích tầm chương,
trích cú, thích nhái lại lời của người xưa.
2) Bố trí thì giờ tu tập. -- Đây là yêu cầu số 2. Khi
đã nhận định rõ lối sinh hoạt và giá trị thực tiễn của Thiền, ta biết Thiền có
ích lợi thiết thực đối với đời sống của chính bản thân ta trên các mặt thân,
tâm, và trí tuệ tâm linh. Từ đó ta bố trí thì riêng tư và giờ thuận lợi để thực
hành thiền tại nhà. Nếu có nơi nào tổ chức khóa thiền, ta nên xếp thì giờ riêng
tư để tham dự.
Ta không đổ thừa nghịch cảnh. Không phí phạm thì giờ để tạo
thêm những mạng lưới niệm dính mắc với các nhân duyên khác hay đối tượng khác.
Ta bắt đầu "đối diện với hiện tại, ở đây và bây giờ."
3) Đối diện với hiện tại. -- Đây là một kỹ thuật xưa
nhất. Trong Kinh Nhất Dạ Hiền Giả hay Một Dính Mắc May Mắn, Phật đã dạy:
"...Tuệ quán chính ở đây, Không động, không rung chuyển. Biết vậy nên tu
tập. Hôm nay nhiệt tâm làm, Ai biết chết ngày mai ?..." Tổ Đạt Ma cũng đã
nói "chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật." Song chúng ta
chưa thực sự đối diện với hiện tại chân thực và thanh tịnh của chính chúng ta.
Đó là đối diện với "tánh giác", "tự tánh" hay "chân
ngã." Chính nó là cái hiện tại, ở đây và bây giờ. Trong nó không có
sự rung động hay rung chuyển, không có tương lai gần hay tương lai xa, cũng
không có quá khứ, và cũng không có hiện tại dính mắc. Đây là yêu cầu số 3.
Trong lúc thực hành Thiền, chúng ta có thói quen để cho mạng
nhện ý thức và suy nghĩ xuất hiện. Khi chúng xuất hiện, chúng cứ nói và nói triền
miên. Thay vì nói đến cái hiện tại, chúng lại nói đến quá khứ và tương lai. Thí
dụ, đây là kỷ niệm của thuở hàn vi, kia là những sai trái đã xảy ra trong 10
năm trước đây. Đây là kế hoạch phải thành tựu trong 5 năm sắp tới. Kia là
chương trình hành hương Trung Quốc, hoặc chương trình đi thăm thánh tích ở Ấn
Độ...
Bạn quên mất hiện tại. Bạn quên rằng bạn đương làm tâm bạn
trở nên không thanh tịnh. Bạn nói bạn sống với hiện tại mà tâm bạn cứ phóng đến
tương lai, cứ quay về quá khứ. Bạn nói "không theo vọng," trái lại
bạn cứ dệt mộng tương lai, cứ ôn cố những lỗi lầm quá khứ, những kỷ niệm xa
xưa. Như vậy, thực sự bạn không hiểu vọng tưởng là gì, không hiểu cái hiện tại
của bạn là gì. Thay vì bỏ niệm ác, bạn lại xây dựng niệm thiện. Thay vì trụ trong
hiện tại, bạn lại đưa tâm về quá khứ, hướng tâm đến tương lai. Vì vậy bạn không
bao giờ giáp mặt được hiện tại. Nó ở đây, và bây giờ. Thay vì tìm cái bây giờ,
cái tức thì (the immediacy) bạn lại đi tìm cái sẽ xảy ra. Rằng tâm của bạn như
thế này, như thế khác. Những tĩnh từ cao siêu được tuôn ra lai láng. Bạn cứ
phóng ra hằng loạt niệm tưởng tượng. Bạn chơi trò cút bắt với niệm. Bỏ niệm
này, bạn tạo ra niệm khác. Thay vì dẹp niệm để thanh lọc tâm (purging the
mind), thăng hoa tâm (transcending the mind), bạn lại làm cho tâm bị tô đậm
thêm những dính mắc và vướng mắc qua việc để cho ý thức tự tô vẽ thêm những
niệm tưởng tượng hão huyền và những niệm ước mơ trong lúc bạn đương dụng công
tu tập. Bạn nói, và cứ liên tục nói. Bạn không nhận ra rằng chính sự nói là niệm.
Thay vì tỉnh giác để giữ niệm không xao động, không khởi ra, bạn lại thiết lập
thêm những phẩm chất kỳ diệu của ngôn từ để hun đúc vào tâm ký ức. Thế là niệm
niệm cứ nối đuôi nhau khởi lên liên tục như môt dòng nước với những nội dung
tâm lý xúc cảm, những tư tưởng cao siêu trừu tượng hay đẹp nhất trần gian. Bạn
đã ru ngủ tâm bạn bằng những ảo giác ngôn từ. Bạn đã xách động ý căn, bắt tư
duy và trí năng biện luận phải hoạt động. Bạn đã vô tình đưa thế giới bên ngoài
vào trong tâm bạn, làm cho tâm bạn huân tập thêm những ô nhiễm, thay vì thanh
lọc. Từ đó mạng lưới niệm của bạn ngày càng dày đặc thêm. Sắn bìm niệm càng bò
ra mỗi lúc mỗi nhiều thêm để cuối cùng bao phủ toàn bộ thân và nhánh cây Tánh
Giác.
4) Trở về chân ngã. -- Từ những phương thức thực hành
kể trên, bạn càng xa rời chân ngã, xa rời tánh giác, xa rời tự tánh, xa rời
"Ông chủ." Một khi ý thức cứ thường xuyên có mặt, bạn không bao giờ
tự cảm nhận được chân ngã hay bản tánh của bạn. Tâm bạn cứ di động. Nó
cứ đi lang thang. Tư tưởng bạn cứ bị kích thích về những điều kỳ lạ của những
nhân vật khác. Bạn quên chân ngã, quên tự tánh của bạn. Nó là cái hiện tại, ở
đây và bây giờ. Đó là cái biết thường hằng và vô ngôn, tức tánh giác. Bạn không
an trú trong nó, trái lại an trú trong ý thức và ý căn. Bạn không tỉnh thức biết,
trái lại tỉnh thức ý thức. Chỉ vì niệm niệm cứ diễn nói trong não. Bạn
không bao giờ ngừng nói qua, nói lại. Bạn không làm sao bắt những tràng niệm
khởi tự dừng để giáp mặt chân ngã, giáp mặt bản tánh. Vì bạn không bao giờ biết
làm sao ngưng suy nghĩ. Bạn cứ suy nghĩ. Bạn cứ dệt thêm những mạng niệm vọng
tưởng trong tâm. Quá khứ và tương lai cứ vẩn vơ trong não bạn. Trong hiện tại,
tâm bạn cứ di động theo những vướng mắc của nó. Thay vì tỉnh ngộ để tháo gỡ
những mạng lưới, bạn lại cố gắng bó chặt thêm. Quá khứ đã đoạn tận mà bạn cứ
sống với quá khứ. Ăn năn và sám hối, phiền não và đau khổ, chương trình và kế
hoạch cứ luân phiên xuất hiện trong não bạn. Chân ngã của bạn đã bị bao phủ bởi
những mây tư duy đó. Bạn không làm sao sống được với hiện tại, ở đây, và bây
giờ. Bạn nói bạn tu thiền để dẹp vọng tưởng mà bạn cứ tẩm ướp liên tục vọng
tưởng. Bạn cứ thường xuyên đối diện vọng ngã. Đó là "ngã tư duy -- the
I-thinking," "ngã ý thức -- the I-consciousness." Vì thế, bạn
hãy nhớ: "Nếu để ý thức và suy nghĩ thao túng, bạn sẽ không bao giờ giáp
mặt chân ngã. Tánh giác của bạn vĩnh viễn bị mai một." Cho dù bạn có cố
gắng tu thêm nhiều năm, cuối cùng bạn cũng chỉ đối diện với cái Ta-ý thức hay
cái Ta -tư duy mà thôi. Còn cái "Tự-Biết -- the Self-Awareness" không
bao giờ có mặt. Vì thế, bạn cần tìm cách để quay về cái Tự Biết, nó chính là
chân ngã. Muốn thế, bạn nên chuyển lối "động niệm" quay về lối
"vô niệm." Đây là yêu cầu số 4.
5. Áp dụng kỹ thuật. -- Cho nên muốn quay về vô niệm
để gặp chân ngã, bạn phải nương nhờ kỹ thuật. Bạn cần đi. Bạn cần "qua bờ
bên kia." Bạn cần thấy trăng. Bạn cần "ngôn hành tương ưng, tức nói
và làm phù hợp." Nói chung, bạn cần thực hành hơn là đọc tụng Giáo lý, tô
vẽ thêm lời hay, ý đẹp. Đây là yêu cầu số 5. Dưới đây chúng tôi trình bày 3 kỹ
thuật:
Không Định Danh Đối Tượng, Không Dán Nhãn và Chú Ý Trống
Rỗng.
Mong rằng những kỹ thuật này sẽ giúp bạn có phương tiện
thanh lọc tâm, thăng hoa tâm và thăng hoa trí tuệ.
KỸ THUẬT 1
KHÔNG ĐỊNH DANH ĐỐI TƯỢNG
HUẤN LUYỆN TÂM
Tâm là con ngựa bất kham. Nó cứ chạy nhảy như con ngựa
hoang. Quán tính của nó là di động. Động cơ thúc đẩy nó phải di động thường
trực là do năng lực tập khí hay lậu hoặc. Năng lực này vốn tiềm tàng trong cơ
chế của tâm. Muốn đào thải chúng, ta phải thành tựu định. Đây là phương tiện
căn bản và thiết yếu của Thiền. Thực hành Thiền mà bạn không biết gì về định,
cũng như không kinh nghiệm định, bạn sẽ khó lòng hàng phục được vọng tâm để an
trụ chân tâm. Tuy nhiên, với người mới bước chân vào Thiền, định là một danh từ
mà người sơ cơ khó có khả năng kinh nghiệm được. Chỉ vì tâm của ta như con ngựa
hoang. Ta không thể làm cho nó trở nên thuần, dễ uốn nắn trong vài ngày hay vài
tháng, hoặc vài năm. Vì vậy, bước thứ nhất của ta là phải huấn luyện tâm. Làm
cho tâm có quán tính mới: quán tính yên lặng. Khi tâm bắt đầu yên lặng,
ta sẽ kinh nghiệm trạng thái Chỉ (Samatha). Nếu yên lặng sâu hơn, ta sẽ kinh
nghiệm được Định (Samàdhi). Đây là lúc tâm không dính mắc với ngoại trần. Mọi
chấp trước, mọi điên đảo không tuần tự khởi lên trong tâm thức ta. Tâm ta trở
nên thuần nhất. Đây là trạng thái nhất tâm, tức là trạng thái có mặt của
tánh giác.
Không Định Danh Đối Tượng là một trong 3 kỹ thuật then chốt
giúp người tu Thiền huấn luyện tâm và phá tan quán tính di động của tâm. Tuy
nhiên trên căn bản, sự dính mắc và chấp trước của tâm vốn xuất phát từ tập khí
hay lậu hoặc, nhưng trên bề mặt, sự dính mắc và chấp trước của tâm vốn xuất
phát từ sự suy nghĩ và ý thức. Trước khi đi đến đào tận gốc rễ tập khí hay lậu
hoặc, Thiền dạy ta cách chấm dứt quán tính động của 2 năng lực ý thức và suy
nghĩ. Khi thực sự làm chủ một trong 2 cơ chế này, ta có khả năng vào định. Rồi
từ nơi định, tập khí hay lậu hoặc sẽ bị đào thải.
ĐỊNH DANH LÀ GÌ ?
Định danh là sự
thiết lập tên gọi hay là sự gọi tên. Nó cũng có nghĩa là sự tạo ra khái niệm
trong tâm hay lời nói trong tâm. (Skt: Prajnapti: designation, a nominal
designation). Thí dụ, khi một người, một vật, một con thú, một cảnh được đề cập
đến, ngay lúc đó đã có sự định danh hay sự gọi tên. Liền theo đó, ta có ý niệm
về vật hay đối tượng kia là gì. Như vậy, bằng sự định danh, vật hay đối tượng
mới hiện hữu trong sự phân biệt của ý thức hay của vọng tâm. Nếu không có định
danh hay không gọi tên, vật tuy hiện hữu trong nhận thức cô đọng mà không có
mặt vọng tâm và ý thức.
Hỏi: -- KHÔNG ĐỊNH
DANH ĐỐI TƯỢNG LÀ GÌ ?
Đáp: -- Không định danh
đối tượng có nghĩa là không gọi tên vật, thú, người, cảnh mỗi khi mắt ta chạm
trán hay tiếp xúc với các thứ đó. Ta tuy nhìn thấy biết đối tượng mà không nói
thầm trong não về tên các đối tượng. Nếu ta nhìn thấy biết mà nói thầm trong
não về tên đối tượng hay nêu lên những thắc mắc về đối tượng, đây là ta đương
định danh đối tượng.
Hỏi: -- TẠI SAO
PHẢI THỰC HÀNH CÁCH KHÔNG ĐỊNH DANH ĐỐI TƯỢNG ?
Đáp: -- Trên căn bản, đây
là cách có hiệu quả giúp ta dẹp được quán tính suy nghĩ hay quán tính chạy theo
vọng tưởng, và làm cho ý thức trở nên không động và trí năng trở nên yên lặng.
Khi ta thực sự làm chủ sự suy nghĩ hay làm chủ được vọng tưởng, tức thì tánh
giác liền có mặt.
Hỏi: -- TẠI SAO
TÁNH GIÁC LIỀN CÓ MẶT ?
Đáp: -- Bởi vì tánh giác
là cái biết rõ ràng và không lời. Ngay khi ta không nói thầm trong não, đấy là
lúc ta không suy nghĩ và cũng không vận dụng ý thức phân biệt về đối tượng,
nhưng ta vẫn biết rõ ràng đối tượng mà trong não không nói lên lời gì về đối
tượng. Sự biết rõ ràng mà không lời đó chính là chức năng của tánh giác.
TÁC DỤNG
Bằng kỹ thuật này,
nếu ta áp dụng miên mật, kết quả sẽ triệt tiêu được quán tính động của vọng
tưởng. Tác dụng nó là chận đứng tâm ngôn hay phá tan quán tính phân biệt của ý
thức mỗi khi mắt ta chạm trán đối tượng.
CÁCH THỰC TẬP
-- Sử dụng nhãn
căn.
Thông thường ta có
thể dùng mắt để nhìn bất cứ đối tượng nào trước mặt ta mà trong não ta không
nói thầm về tên vật đó. Trong cách nhìn này, ta có thể áp dụng các chiêu thức:
-- nhìn chằm
chằm, nhìn lướt, nhìn thẳng, nhìn xa.
Dưới đây chúng tôi
chỉ giới thiệu cách nhìn chằm chằm. Về các cách nhìn lướt, nhìn thẳng và nhìn
xa, quí vị có thể xem Kỹ thuật Chú Ý Trống Rỗng.
NHÌN CHẰM CHẰM
Gazing Meditation
Trong Thiền có nhiều cách tu. Cách đi vòng quanh và cách đi
thẳng. Cách đi thẳng là cách chính ta trực tiếp làm cho tâm không di động.
Bản tánh của tâm thì di động. Nó di động từ đối tượng này
đến đối tượng khác. Nó di động thường hằng. Đây là lúc ta chưa tu hay tu không
đúng cách. Nó không bao giờ đứng yên. Vì không đứng yên nên nó được Phật xem
như là con vượn, con ngựa. Phật dạy ta phải điều phục nó. Bắt nó phải đứng yên.
Nhưng làm thế nào để nó đứng yên ?
Bằng cách nhìn chằm chằm, bạn sẽ bắt tâm bạn đứng yên. Ý
thức và suy nghĩ không xen kẽ xuất hiện. Ngay đó tánh giác liền có mặt.
Thực tập như thế nào ? -- Với lưng thẳng đứng, trong tư thế ngồi
bán già hay kiết già theo nghi thức thường lệ, bạn hé mắt nhìn đối tượng trước
mặt. Đối tượng này có thể ngang tầm mắt hay trên sàn nhà, cách rốn bạn 3 gang
tay. Bạn cứ phóng tầm thấy biết không lời đến đối tượng. Giữ trong não không
nói một lời. Nếu nói lên một lời, tâm của bạn sẽ xuất hiện và nó sẽ di động.
Nếu tâm di động, sự nhìn chằm chằm mất. Cho dù hai mắt của bạn vẫn hướng đến
đối tượng, nhưng bạn không còn thấy đối tượng nữa. Bạn thấy những đối tượng khác
từ bên trong tâm thức bạn. Đó là sự hoạt động của ý căn và ý thức. Đây là những
đối tượng do tâm di động của bạn tạo nên. Tâm di động của bạn tuần tự tạo ra
những mạng lưới niệm. Nó tuần tự đi vào khung trời quá khứ và cảnh giới tương
lai.
Nếu nó cứ di động như vậy, thời thiền của bạn không có giá
trị. Nhưng bạn cần chú ý: di động là bản chất của tâm phàm phu. Đây là điều
thông thường. Bạn đừng e ngại. Bạn chỉ cần nhận ra quán tính hay bản chất phàm
phu của nó là được. Vì có nhận ra như thế, bạn mới hiểu được thực chất tâm vọng
của mình. Sau đó bạn mới dùng kỹ thuật nhìn chằm chằm để không cho phép nó di
động nữa.
Khi bạn nhìn chằm chằm mà không nói thầm, bạn sẽ nhận ra một
trạng thái vô niệm. Nhưng vô niệm chỉ xuất hiện một thời gian ngắn. Vì tâm của bạn
lại tiếp tục di động. Nó không bằng lòng sự đứng yên. Nó chống lại sự bắt buộc
của trí năng. Nhưng nhiều lúc nó cũng dừng. Vì bạn cố gắng nhìn mà không nói
thầm. Khi nó dừng, bạn sẽ kinh nghiệm là không có mặt sự suy nghĩ, không có sự
phân biệt. Như vậy, suy nghĩ chính là sự di động, ý thức chính là sự di động.
Do đó, nếu nhìn chằm chằm được thành tựu vững chắc, suy nghĩ sẽ bị chinh phục.
Ý thức cũng bị chinh phục luôn. Ngay khi đó chân tâm liền được an trụ. Hiện tại
liền có mặt. An lạc cũng có mặt. Phiền não vắng mặt. Nhưng nếu trong khi nhìn
chằm chằm, bạn khởi lên một niệm cảnh giác (alertness), ý thức liền xuất hiện.
Bạn cần thận trọng. Sai một chút là hỏng. Sai một chút, tánh
giác không làm sao có mặt. Cho nên, nhìn chằm chằm có nghĩa không những mắt của
bạn, mà toàn thể tâm của bạn tập chú qua mắt. Tâm của bạn trong trường hợp này
là chân tâm, tức tánh giác. Nếu bạn tiếp tục nhìn chằm chằm vào một vật, hoàn
toàn biết (fully aware) và không lời, tánh giác của bạn đã xuất hiện.
Đến đây bạn sẽ kinh nghiệm thêm: nhìn chằm chằm không phải
chỉ sử dụng hai mắt nhìn mà nhìn bằng tánh thấy. Đây chỉ là cách mượn đối tượng
nhìn và mượn cách nhìn để tác động tánh thấy từ trung tâm tánh giác.
KỸ THUẬT 2
KHÔNG DÁN NHÃN
ĐỊNH NGHĨA
Dán nhãn là gì ?
-- Dán nhãn (P: nãmankitannan yojeti: to label; P: ankapanna, nãmankana: n.
label) là cách đặt tên cho điều gì theo cảm nghĩ, quan điểm, nhận định, hay
tình cảm riêng biệt của một người hoặc một nhóm người đối với đối tượng.
NGUỒN GỐC
Nguồn gốc xuất
phát của thái độ dán nhãn đối tượng vốn từ ý thức phân biệt sinh ra. Trong ý
thức này có ẩn tàng những định kiến, thiên kiến, và thành kiến đối với đối
tượng. Do đó, khi ý thức chạm trán đối tượng, sự dán nhãn liền tự động nảy
sinh. Người bị dán nhãn hiệu liền được mang những thứ phẩm từ đủ loại, tùy theo
mức độ thành kiến và ác khẩu của người dán nhãn. Thí dụ, khi không ưa một người
nào đó, bỗng nhiên thấy người kia được nhiều người tôn kính, kẻ ác khẩu vốn sẵn
định kiến với người kia, dù không biết mặt mũi họ là ai, liền dùng những phẩm
từ phàm tục để dán nhãn người kia. Các loại phẩm từ này có thể như: ma giáo,
tà đạo, không chân chính, độc tài, lợi dụng danh nghĩa, lợi dụng lòng tốt, ác
độc...
Khi ý thức của một
người được thanh tịnh, sáu căn của họ không tác động chân tâm, lúc bấy giờ mọi
thấy nghe hiểu biết của họ đều không có sự dán nhãn.
CHÂN LÝ KHÔNG CẦN
DÁN NHÃN
Chân lý tự bản
thân nó không có nhãn hiệu. Khi một người dạy Thiền Phật giáo mà có tư tưởng
"dán nhãn" trong đường lối, chủ trương, người đó không phải là một
người đã thông suốt tinh ba Phật học, vì họ còn vướng mắc tâm phân biệt và bè
phái. Ghét và thương, thiện và ác còn xuất hiện trong tâm họ.
Trong phương pháp
thực hành Thiền ở bước đầu, người mới tu thiền được hướng dẫn cách tập KHÔNG
DÁN NHÃN ĐỐI TƯỢNG.
THẾ NÀO LÀ KHÔNG
DÁN NHÃN ?
Đó là không dán
nhãn hiệu "tốt hay xấu," "đúng hay sai," "chánh hay
tà," "thiện hay ác," "phải hay trái" vào bất cứ đối
tượng gì. Đây là cách thực hành không nói thầm trong não mỗi khi mắt chạm vào
đối tượng, tai nghe những nội dung âm thanh khác nhau. Bằng cách này, ta chỉ
giữ sự biết thanh tịnh mỗi khi mắt và tai chạm trán vào đối tượng. Nếu chúng ta
dán nhãn hiệu vào các vật, các đối tượng, các cảnh, nói chung là các
hiện tượng, đây là lúc tâm ngôn khởi dậy, sự cột buộc tâm vào đối tượng
sẽ dính kèm theo đó. Cho nên điều cần thiết là khi áp dụng kỹ thuật này, bạn
phải không gọi tên đối tượng mỗi khi bạn thấy đối tượng và nghe âm thanh của
người khác nói về điều gì đó.
Nhìn đối tượng chỉ
là cách để tác động tánh biết, thông qua sự không dán nhãn đối tượng. Cũng
vậy, ta không dán nhãn hiệu vào sắc (sights), thanh (sounds), hương (smells),
vị (tastes), xúc (tactile sensations), mà chỉ nhận biết (aware of) thôi, chứ
không nói thầm trong não một điều gì.
TÁC DỤNG
Con người thích
dán nhãn phân biệt (discriminative labels) theo cảm nghĩ riêng biệt và chủ quan
của họ với mọi người chung quanh họ. Thương một người, thích một người, dù
người đó có bản tâm xấu xa, bần tiện, họ cũng dán nhãn tốt và hiền lương cho
người kia. Mầm mống phân biệt, bè phái (sectarian) đấu tranh, nghi kỵ, tranh
chấp, ác hạnh, phiền não và khổ đau bắt đầu từ sự dán nhãn phân biệt này. Đây
là điều trái nghịch với truyền thống lý tưởng, văn hóa và văn minh Phật giáo.
Với Phật giáo,
người tu phải đạt được cái nhìn như thật. Vật thế nào, thấy và biết y như thế
đó. Cho nên, trong chính thống Phật giáo, không có thái độ chụp mũ xuất hiện.
Đồng thời cũng không dán nhãn hiệu tâng bốc hay đề cao. Vì cả hai chụp mũ xấu
và đề cao tốt đều rơi vào trong qui luật nghiệp của 3 cơ chế: thân, lời và ý.
Bằng các cách nhìn
khác như nhìn lướt (glimpse), chú ý trống rỗng, nếu thành tựu
vững chắc, bạn sẽ đạt được trạng thái biết như thật. Đây là tuệ trí
(insight). Nhưng nếu bạn nhìn (watch) với nhãn hiệu (labels) -- "Đó là con
người bần tiện," "Đó là con người lợi dụng," "Đó là tiếng
chuông báo giờ mãn thiền," "Đó là bình hoa hường" v.v..., bạn sẽ
không đạt được cái nhìn không dán nhãn. Ý thức của bạn đã có mặt để diễn dịch
về đối tượng.
Ngay khi bạn dán
nhãn hiệu vào đối tượng, ngôn hành liền xảy ra theo đó. Tất cả cảm giác của ngũ
quan sẽ liên tục khởi dậy, như thế bạn sẽ không đạt được chân lý, tức là không
đạt được cái thấy biết thuần tịnh. Vì vậy, bằng cách nhìn không dán nhãn vào
đối tượng, bạn có khả năng đạt được trí tuệ và tâm thanh tịnh nhanh chóng.
KỸ THUẬT 3
CHÚ Ý TRỐNG RỖNG
Bare Attention
ĐẠI CƯƠNG
Trọng tâm của bước
này là tác động thẳng vào tánh giác bằng tánh thấy, tánh nghe, và tánh xúc chạm
để thiền gia có khả năng làm cho tánh giác hiển lộ. Đây là cách đi thẳng vào
tánh giác bằng 1 trong 3 kỹ thuật.
Trên căn bản, chú
ý trống rỗng là pháp gồm chung 2 pháp thu hẹp chú ý và chú ý
không chọn lựa. Vì vậy, nếu ứng dụng cách chú ý trống rỗng ta không
cần ứng dụng 2 cách kia. Ngược lại,nếu muốn ứng dụng thu hẹp chú ý,
ta không cần sử dụng 2 cách kia.
ĐỊNH NGHĨA
-- Chú ý trống
rỗng là gì ? -- Là cách tập trung sự chú ý nhìn vào một đối tượng mà
không biện minh (argue) về đối tượng đó như thế nào. Ta chỉ thấy đối tượng mà
trong não không có lời nói thầm khởi lên. Bằng cách chú ý này, ta kích thích sự
hoạt động của tánh thấy. Thiền đúng. Cùng lúc đó, nếu tập trung sự chú ý
nhìn vào một đối tượng mà biện minh về đối tượng. Đây là chú ý của ý thức. Bằng
cách này đưa đến phát triển đám rối tư duy. Thiền sai.
-- Chú ý trống
rỗng là gì ? -- Là cách tập nhìn đối tượng mà không suy nghĩ, không dán
nhãn đối tượng. Đây là cái nhìn của tánh thấy. Tánh thấy chứng kiến mà không
nói thầm. Trong đó không có người nhìn, cũng không có nội dung nhìn, và không
có sự diễn nói về đối tượng trong khi đương nhìn hay sau khi nhìn. Giống như
cách nhìn của ngài Đại Ca Diếp khi đức Phật đưa cành hoa lên.
-- Chú ý trống
rỗng là gì ? -- Là cách tập nhìn vào một điểm bằng sự thấy biết (visual
awareness), dù tai có nghe biết môi trường bên ngoài như tiếng ồn ào của trẻ
con, tiếng máy nổ của chiếc xe, tiếng ca hát của ca sĩ, tánh giác vẫn có mặt
khắp nơi. Vì không có điều gì làm rối loạn tâm. Đây là cách tập nhìn để đánh
thức tánh thấy. Bằng cách nhìn với sự chú ý trống rỗng ta sẽ đạt được định.
-- Chú ý trống
rỗng là gì ? -- "Trống rỗng" có nghĩa là "không có chứa
điều gì." Chú ý trống rỗng có nghĩa là "chú ý mà không để tâm quan
sát hay tìm hiểu nội dung chú ý, nhưng lại biết rõ đối tượng như thế nào."
Nơi đây chỉ có tiến trình biết (a process of knowing) và đối tượng của sự biết
(object-of-awareness) mà không có người biết phía sau đó. Đây là một kỹ
thuật tổng quát hướng dẫn thiền sinh sơ cơ thực tập cách sử dụng trí năng để
điều khiển 2 mắt "chú ý nhìn đối tượng trước mắt mà không để ý đến nội
dung đối tượng" hay "nhìn vào đối tượng mà không cố ý muốn biết rõ
về đối tượng như thế nào. Trái lại chỉ có sự nhận biết (awareness) đối
tượng một cách lặng lẽ." Nói cho dễ hiểu: "Đối tượng như thế nào, ta
chỉ nhận ra y như thế đó mà không gọi tên đối tượng, cũng không khởi niệm so
sánh hay phân biệt đối tượng này với đối tượng kia, nhưng ta vẫn biết rõ ràng
về đối tượng." Danh từ "ta" trong trường hợp này là giả lập
hay tạm gọi để cho rõ nghĩa, chứ trong lúc đó chỉ có tiến trình biết
và đối tượng của sự biết mà thôi. Tự ngã và ý thức vắng mặt trong tiến
trình này. Đó là ý nghĩa của "chú ý trống rỗng."
Ta có thể nói cách
khác: chú ý trống rỗng là cách "nhìn thấy vật, biết rõ ràng về vật mà
không gọi tên vật, cũng không nói thầm những sắc thái của vật như thế nào trong
não," giống như cách "không định danh đối tượng" hay "không
gọi tên vật trước mắt" là gì. Nếu ta gọi tên hay khởi niệm so sánh đối
tượng, sự chú ý trống rỗng trở thành chú ý có nội dung, không còn mang ý nghĩa
trống rỗng nữa, và như thế là có ý niệm ta hiện hữu. Như thế là sai. Nếu nói
theo lý luận của kinh Kim Cang, ta có thể nói: "chú ý mà không chú ý, đó
là chú ý trống rỗng." Hoặc "Mắt tuy thấy cảnh vật mà không chú ý đến
nội dung cảnh vật. Đó là chú ý trống rỗng." Hoặc "Tai tuy nghe tiếng
mà không chú ý đến nội dung âm thanh, đó là chú ý trống rỗng."
CÁCH THỰC TẬP
-- Chiêu thức 1:
Nhìn Thẳng Mà Gần.
Trước hết, ngồi
nơi đã chọn sẵn. Ngoài công viên, trong thiền đường, hay nơi buồng thiền. Ngồi
vững vàng, lưng thẳng đứng, hai mắt nhìn thẳng về phía trước, ngang tầm nhìn
với hai mắt. Đối tượng nhìn có thể là một điểm (a spot) một cành hoa, một tượng
Phật (an icon of Buddha), một lùm cây, v...v... Sau đó đưa niệm biết (a thought
of awareness) di động ra ngoài trong một đường thẳng, từ chỗ bạn ngồi
đến đối tượng. Để hai mắt bạn thư giản, không tập chú sự nhìn (vision), cũng
không tập chú đến đối tượng. Lúc bấy giờ chỉ có sự nhìn thấy biết mà thôi.
Tập trong vòng 10
phút. Sau đó phản ánh lại kinh nghiệm, xem có bao nhiêu niệm khởi lên trong
tiến trình vừa qua. Nếu bạn cảm thấy tiện nghi với kỹ thuật này, bạn hãy tiếp
tục nhìn thẳng nhiều lần 10 phút. Cuối cùng, sau một thời gian ngắn, bạn kiểm
điểm lại xem cách nhìn thẳng này có giúp bạn giảm dần mức độ nói thầm từ
trong tâm hay không. Nếu giảm bớt, đây là cách dụng công tốt. Bạn nên tiếp tục.
-- Chiêu thức 2:
Nhìn Thẳng Mà Xa.
Khi ứng dụng cách
này, bạn chọn chỗ nhìn xa nơi chỗ bạn đứng hay ngồi. Nếu mắt chạm vào đối
tượng, bạn chỉ nhận biết mà không khởi niệm so sánh hay phân biệt đối tượng này
với đối tượng kia như thế nào, cũng "không dán nhãn" hay "không
gọi tên đối tượng" đó là gì. Do đó, dù sự chú ý có được triển khai
(deployed) rộng qua sự nhìn toàn diện và toàn thể không gian trước mặt, những
đối tượng bị thấy trong tầm nhìn đó vẫn không tác động vào sự phân biệt của
nhãn thức. Càng nhìn lâu trong vòng 10 phút mà không có tâm ngôn khởi dậy, bạn
sẽ nghe được nhịp tim, thân cảm giác thư giãn như yên lặng (transquillity),
tĩnh lặng (calmness), nhẹ nhàng (lightness) hay vắng lặng (serenity). Nếu trước
kia bạn thường hay lo âu, hoang mang, hốt hoảng, chứng này sẽ từ lần lắng dịu;
cuối cùng chấm dứt. Vì trong tiến trình nhìn thẳng và xa mà tâm ngôn không
khởi, hệ đối giao cảm thần kinh hoạt động. Kết quả là đưa đến thư giãn. Sau đó
bạn sẽ cảm nhận niềm vui vẻ, hồ hỡi (exhilaration).
CHÚ Ý:
Vì còn đương trong
thời kỳ luyện tập nên trong quá trình này, tự ngã có mặt để sử dụng trí năng
ghi nhận (notes) sự liên tục của niệm thấy đối tượng, niệm cảm thọ và cảm
giác về ngoại trần ngay khi những niệm này khởi lên và qua đi trong nhận
thức vị ấy. Trong trường hợp này, bất cứ những điều gì được nhìn thấy
(perceived), tạm thời ta cố gắng tập giữ sự chú ý được "trống rỗng
-- bare," tức là trong tiến trình chú ý, ta chỉ thấy đối tượng mà không có
nội dung gì trong đó. Nói chung, trong bước này thiền gia cố gắng tập không
phản ứng lại các điều gì mình cảm thọ trrên thân hay điều gì mình nghe
và thấy. Thí dụ, đương tọa thiền có những cảm giác như kiến bò trên da mặt,
sự đau nhức ở chân, hay có tiếng động ồn ào bên ngoài, ta không chú ý đến những
cảm thọ đó, trái lại chỉ chú ý đến sự toạ thiền theo chủ đề mà ta đương thực
tập.
Do đó, bất cứ tác
nhân kích thích nào (stimuli) mà ngũ quan cảm nhận, thiền gia cố gắng tập
không bình luận, không xét đoán, không viện dẫn (preference), không kiến giải
hay không ngẫm nghĩ (reflect) đến tác nhân đó. Mường tượng như tự ngã không có
mặt trong trường hợp này.
Thí dụ, đương tọa
Thiền với chủ đề "biết rõ ràng về sự phồng lên, xẹp xuống của khu
vực bụng khi sự thở tự động hít vào và tự động thở ra liên tục," thiền gia
chỉ biết sự "phồng, xẹp" của khu vực bụng mà thôi, chứ không truyền
sự nhận biết (awareness) đó sang khu vực ý thức hay ý căn. Vì vậy, dù bị muỗi
đốt hay tiếng động bên ngoài tác động vào tai, tánh giác tuy vẫn biết những sự
"phồng, xẹp của cơ bụng" qua tác động của sự thở tự động mà vọng tâm
vẫn không khởi ra.
Bằng cách này, hệ
thống thông tin thông thường của nhãn thức, nhĩ thức mặc nhiên bị phá vỡ, thay
vào đó là nhận thức cô đọng của tánh giác ngày càng rõ ràng hơn và sẽ trở thành
một năng lực mới. Lúc bấy giờ tất cả hình thái niệm khởi như những sự lăng
xăng, bối rối (distractions), những lo âu, phiền muộn, những hình ảnh tưởng
tượng (fantasies), những phạm trù tư duy (categories of thinking), những sự mơ
tưởng (reveries), những hoạt động không dừng của đối thoại thầm lặng bên trong
(the incessant activities of the inner silent dialogue), dù có bất chợt khởi
lên, chúng cũng bị tánh giác ghi nhận ngay tức khắc, để rồi chúng cũng
tự lặn mất, khi ta nhận ra chúng. Thuật ngữ Thiền tông gọi trạng thái
này là "Vọng khởi liền biết. Biết vọng liền lìa." (Nhưng ở đây, vọng tự
lìa, chứ không phải ta không theo vọng.) Tất nhiên, liền theo đó sự
an lạc nội tâm hiện rõ trên gương mặt bình thản và vui tươi của ta.
THU HẸP CHÚ Ý
Đây là cách thực
hành thu hẹp sự chú ý vào một đối tượng và duy trì sự thu hẹp chú ý đối
tượng đó trong suốt thời thiền 30 phút hay 60 phút. Sự thu hẹp (restriction)
chú ý này đồng nghĩa với sự tập chú (focus), sự chú ý vào một điểm. Có nghĩa là
khi thực hành ta không mở rộng tầm nhìn vào nhiều đối tượng trước mắt mà chỉ
chú ý nhìn vào một đối tượng. Thí dụ như những cách sử dụng nhãn căn để tập
trung sự chú ý vào một đối tượng trước mặt như một dấu chấm nhỏ, một cuốn sách,
một bức ảnh của tổ Đạt Ma, một tượng Phật Thích Ca ... phù hợp theo tầm nhìn
của mắt -- thông thường không quá 5 gang tay -- hoặc chú ý đến hơi thở vào và
ra trong một thời thiền kéo dài trong 30 phút hoặc 60 phút. Khi thực hành cách
chú ý này, ta ứng dụng nhìn mà không khởi lên niệm nói thầm về hơi thở
vào ra như thế nào. Ta chỉ nhìn sự vào và ra của hơi thở mà không nói thầm.
Bằng cách chú ý này, tâm ta dần dần trở nên tĩnh lặng và an lạc vì ý căn không
khởi lên những sự suy nghĩ linh tinh.
TÁC DỤNG
Tác dụng của lối
nhìn như thế này đưa đến giảm nhận cảm đối tượng từ bên ngoài (exteroceptive
object), cũng như giảm nhận cảm đối tượng bên trong (interoceptive object), và
do đó dòng ý thức (the stream of consciousness) từ não phải và dòng tư duy (the
stream of thinking) từ não trái giảm những biểu lộ (manifestations) của chúng.
Cuối cùng cả hai dòng ý thức và tư duy sẽ trở nên yên lặng, nhường chỗ lại cho
dòng biết không hai (the stream of nondualistic awareness) của tánh giác, phía
sau bán cầu não trái xuất hiện.
CHÚ Ý KHÔNG CHỌN
LỰA
Chú ý không chọn
lựa là gì ? -- Đó là cách thực tâp nhìn đối tượng trước mặt mà ta không chú ý
kỹ lưỡng đến đối tượng nào. Ta có thể nhìn lướt (glimpse) từ vật này đến
vật kia, hoặc ta nhìn toàn bộ cảnh vật trước mặt rồi tiếp theo nhìn cảnh tượng
bên trái hay bên phải, hoặc sau lưng. Ta cứ luân phiên nhìn như thế, nhưng nhìn
chỉ để nhìn, thấy chỉ để thấy, biết chỉ để biết rằng có đối tượng trước mặt.
Thế thôi. Chứ không phải nhìn với nội dung quan sát tỉ mỉ từng chi tiết về
đối tượng hay tò mò tìm hiểu quá khứ và tương lai đối tượng. Đối tượng như thế
nào, trong hiện tại, ta chỉ thấy và biết y như thế đó, ta không duyên theo (do
not persue), cũng không dồn nén (do not suppress) hay ức chế nó (inhibit it)
hoặc cũng không xét đoán (do not judge), không kiến giải (do not interpret) đối
tượng kia như thế nào. Giống như cách nhìn sau cùng của Thiền sư Duy Tín. Hoặc
Thiền sư Thanh Từ nói: "Nhìn hoa hường, biết hoa hường; nhìn cây bách tán,
biết cây bách tán."
Thí dụ 1
Ta không nên tự
hỏi: -- Đối tượng này, vật này từ đâu đến ? có mặt nơi đây từ bao giờ ? Ai tạo
ra vật này ? Vật này dùng để làm gì ? Có lợi ích không ? vân vân. Nếu ta nêu
lên một tràng câu hỏi hoặc bình luận, kiến giải hay xét đoán đối tượng, đây là
ta đang bị đối tượng dẫn tâm duyên theo chúng. Ta cũng không ngăn chận
xúc cảm mình khi mắt ta chạm trán những hấp dẫn hay ghê tởm, hoặc dễ ghét, dễ
ưa, dễ thích của đối tượng ...
Đây gọi là không
dồn nén hay không ức chế tâm. Ta chỉ giữ trạng thái "chú ý không chọn lựa
trước tất cả các đối tượng." Bằng cách này, ta sẽ đạt được sự biết
không chọn lựa (choiceless awareness). Thuật ngữ Thiền tông gọi trạng thái này là trạng thái
biết tĩnh lặng (the state of silent awareness) trong vô niệm (no thought).
Tất cả xúc cảm nhơ bợn (emotional defilements) không còn có điều kiện khởi lên
từ nội tâm ta nữa. Khi sự nhận biết (awareness) tăng dần lên trong tâm và trở
thành một năng lực, lúc bấy giờ ta sẽ có kinh nghiệm về "dòng biết không
hai" trong chân đế Bát Nhã. Trong chân đế Bát Nhã gọi là "trí huệ tối
hậu" (the ultimate truth of Wisdom). Đó là cách thấy biết như thật
trạng thái đang là của đối tượng.
Thí dụ 2
Khi phóng tầm mắt nhìn về phía trước, 2 mắt nhìn thấy cảnh
vật, ta không chọn vật này, bỏ vật kia, nhưng ta cũng không để tâm chú ý riêng
biệt đến vật nào. Hình ảnh mọi vật trước mắt cứ truyền thẳng vào mắt theo đường
vận hành của chúng, nhưng tất cả hình ảnh truyền vào khi đến thùy chẩm đều bị
giữ lại tại vùng thấy của tánh thấy. Bằng cách này, vùng này sẽ bị kích thích.
Cùng lúc đó nếu tai ta nghe âm thanh của tiếng nhạc, tiếng
đọc kinh, tiếng tụng chú đều đều được phát ra từ trong băng cassette, hay tiếng
của trẻ con đùa giỡn trong nhà, ta vẫn thực tập không chú ý đến một âm thanh
nào. Nếu bất chợt có sự lặp lại nội dung âm thanh hay sự suy diễn về nội dung
âm thanh đó xảy ra, ta phải kịp thời dập tắt ngay bằng cách không lặp lại nội
dung âm thanh đó trong não. Đây gọi là nghe, chỉ biết nghe, nơi đó không có
người nghe và nội dung nghe; chỉ có tánh nghe và âm thanh. Trong trường
hợp này tánh nghe là chủ thể cái nghe.
Tác dụng của cách thực tập này giúp ta phá vỡ mức độ suy
nghĩ của ý căn và phân biệt của ý thức. Cuối cùng ta có khả năng làm chủ sự suy
nghĩ. Khi suy nghĩ đã tự dừng, tất nhiên tánh giác bắt đầu có mặt. Đó là cái
biết thường hằng (the constant awareness) mà con người vốn sở hữu. Vì sao ? --
Vì khi ta thực sự làm chủ được sự suy nghĩ, "đơn niệm biết rõ ràng"
(a clear and single thought of awareness) liền xuất hiện bên trong khu Kiến
giải tổng quát (General Interpretation area). Mọi thứ tình cảm thông thường của
phàm tâm đều vắng mặt. Lúc bấy giờ sự tỉnh thức (awakening) liền có mặt. Đây là
sự tỉnh thức của tánh giác (the awakening of awareness) chứ không phải sự tỉnh
thức của ý thức (the waking of consciousness).
TÁC DỤNG
Bằng những lối tập chú ý không chọn lựa hay nhìn
lướt kể trên, nếu thực sự thực hành đúng theo mục tiêu hướng dẫn của cách
tập này, tác dụng của nó là kích thích tánh giác để tánh giác sớm trở thành một
năng lực. Khi tánh giác càng có mặt thường xuyên sóng tâm thức sẽ không thể nào
khởi dậy. Lúc bấy giờ xem như "ánh sáng" (the light) của tánh giác
bắt đầu có mặt thường xuyên, tất nhiên "sự tối đen" (the darkness)
của đám rối tư duy phải bị xua tan liền theo đó. Đến đây vị thiền sinh sơ cơ
được huấn luyện để trở thành "nhân chứng" về chính sự kinh nghiệm
phát triển tâm linh của mình. Vị thiền sinh biết thế nào là "nóng",
thế nào là "lạnh;" không còn đóng vai "cá sống dưới nước, không
biết gì trên đất liền." Đây là lúc ta có khả năng "ăn được bánh thiền
do chính tay ta làm và nướng." Bánh Thiền không còn là một thứ bánh vẽ.
Đó là kinh nghiệm về sự hiện hữu (the existence) của cái
biết lặng lẽ (silent awareness), cái biết không phân tích (non-analytical
awareness), cái biết không lời (nonverbal awareness), biết không xét đoán
(non-judgmental awareness). Cùng lúc đó, ta cũng có kinh nghiệm sự chuyển đổi
tâm thức, và sự phát huy trí vô sư trong mức độ thấp.
Nói theo thiền, đây là lúc ý niệm tự ngã đã hội nhập
vào tánh giác thành một thể thống nhất (integrated): ta là tánh giác, tánh giác
là ta. Nhưng cái ta này trở thành chân ngã vì nó không còn đóng
vai chủ thể ý căn và ý thức mà là chủ thể tánh giác, hay nó cũng chính
là tánh giác. Vì chính nó tự biết về đối tượng đang diễn tiến trên thân và tâm,
chứ không có người biết trong đó.
Đây cũng là yếu tố cơ bản của kiến tánh (seeing into your
own nature).
KẾT QUẢ
Nếu kiên trì thực tập theo các kỹ thuật nêu trên, kết quả ta
sẽ đạt được như sau:
1. Giảm bớt quán tính động của vọng tâm. Từ thực tập cách chăm
chú nhìn đối tượng mà không định danh đối tượng hay không dán nhãn đối
tượng, kết quả trước mắt là quán tính động của vọng tâm (false mind)
từ lần biến dạng (gradually disappear). Đó là niệm nói thầm (muttering
thought) bắt đầu được giảm bớt. Nếu kiên trì thực tập cách này tối thiểu trong
60 thời, mỗi thời kéo dài 30 phút hoặc 40 phút, ta sẽ có kinh nghiệm làm chủ
được sự suy nghĩ trong vòng 1 phút đến 3 phút hay nhiều hơn.
2. Tánh giác từ lần xuất hiện. Khi niệm nói thầm từ
lần giảm bớt, ta liền kinh nghiệm được sự dừng vọng tưởng từng chập -- có nghĩa
là khi dừng được, khi không dừng được, lúc bấy giờ ta vẫn biết rõ ràng
môi trường chung quanh, theo nhịp độ từng chập suy nghĩ, đó là lúc niệm biết (a
thought of awareness) cũng từng chập xuất hiện theo độ dừng của vọng tâm.
Bởi vì tánh giác là niệm biết rõ ràng (the thought of clear awareness) mà
không có lời nói thầm trong đó.
3. Kinh nghiệm "thấy như thật -- clear seeing into
things-as-they-are." Khi suy nghĩ dừng được, tánh giác liền có mặt
ngay trong phút giây đó. Lúc bấy giờ ta có ngay kinh nghiệm "thấy như
thật" các đối tượng trong tầm nhìn của ta. Đó là "vật thế nào, ta
thấy y như thế đó" mà không có phân biệt hay so sánh, phán đoán hoặc suy
luận và phân tích về chúng. Thuật ngữ Thiền trong hệ Nguyên Thuỷ gọi là "thấy
như thật."
Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm thô sơ của một phần nhỏ
trong bước một về phương pháp thu hẹp chú ý với niệm không nói thầm. Ta
cần dụng công thêm để phát huy kinh nghiệm nhìn mà không nói thầm trong não
để hoàn chỉnh bước một với chủ đề trên.
Nếu cố gắng siêng năng thực hành một trong 3 kỹ thuật chú ý:
trống rỗng chú ý, thu hẹp chú ý, và chú ý không chọn lựa, bằng cách nhìn
vào bất cứ vật gì mà không định danh đối tượng, không gọi tên đối tượng,
không đặc tính hóa (do not characterize) hay không cho một danh hiệu (a
title) cho đối tượng, một ngày nào đó ta sẽ làm chủ được niệm khởi trong
vòng 30 phút liên tục trong suốt buổi tọa thiền, xem như ta bắt đầu có kinh nghiệm
Tâm Không hay Vô Ngã. Vọng tưởng không còn là một vấn đề nan giải.
TÓM KẾT
1. Tánh giác tuy có sẵn trong mỗi chúng sanh, nhưng chúng
sanh vẫn không biết làm sao cho nó hiển lộ. Cũng như "hòn ngọc như ý"
tuy được xem như "chôn dấu đâu đó trên đất tâm" của chúng sanh, nhưng
chúng sanh không biết hòn ngọc đó chôn dấu chỗ nào. Ngoài ra, cho dù có biết rõ
chỗ chôn dấu "hòn ngọc như ý," ta cũng không biết lấy phương tiện gì,
kỹ thuật gì để đào. Rất may, với những phương thức thực hành thiền qua sự chỉ
dạy của Đức Phật và chư Tổ, cho thấy hòn ngọc đó thực sự bị chôn dấu
trong "đám rối tư duy," nếu " phá tan đám rối tư duy," ta
sẽ thấy hòn ngọc như ý hiện rõ trong tầm tay. Cho nên, khi cái bị
sanh dừng, cái vô sanh liền xuất hiện.
2. Để ứng dụng cách phá tan đám rối tư duy, ta có 4 cách
thực hành. Trống rỗng chú ý, thu hẹp chú ý, chú ý không chọn lựa, và nhìn chằm
chằm, nhìn lướt. Tuy tên gọi 4 cách khác nhau, nhưng trọng tâm ý nghĩa đều
giống nhau vì cách thực hành không gì khác hơn là dẹp tâm ngôn (chattering
mind/mental chatter) để tánh giác hiển lộ.
3. Không dồn nén tình cảm, không duyên theo đối tượng, không
kiến giải đối tượng, không xét đoán đối tượng, không dán nhãn đối tượng, không
định danh đối tượng, và cũng không dính mắc đối tượng, đó là cách thực tập chú
ý được giữ "trống rỗng - bare." Đây là cách tập luyện của thiền sinh
sơ cơ với tác dụng giúp tánh giác của họ được hiển lộ trong bước thứ nhất.
4. Khi tánh giác bắt đầu có mặt thực sự, thiền gia sẽ dứt
trừ được năm chướng ngại (1) tinh thần và có kinh nghiệm về cận hành định.
Từ trong định, dù sâu hay cạn, vị ấy bắt đầu có khả năng thiêu đốt hay
loại trừ được lậu hoặc.
THỰC HÀNH
Vì
còn sơ cơ, ta không áp dụng tư thế nằm. Lý do là nằm thì dễ ngủ, nên ta dụng
công trong 3 tư thế: đi đứng và ngồi. Tùy theo điều kiện thuận lợi của riêng
từng người, ta có thể sử dụng 1 trong 4 căn: mắt, tai, thân và ý căn để thực
tập.
--
Về kỹ thuật, ta sử dụng 1 trong 4 căn và áp dụng xen kẽ 3 phương pháp chú ý như
đã học, cộng với cách không nói thầm trong não.
--
Mỗi thời thực hành kéo dài 20 phút hoặc 30 phút.
1.
Sử dụng nhãn căn:
--
Thấy: -- Nhìn đối tượng trước mặt (trong vòng 20 phút hay nhiều hơn nữa) mà
không định danh đối tượng, không dán nhãn đối tượng, không gọi tên đối tượng.
Ta có thể nhìn xa hay nhìn gần, nhìn thẳng, hay nhìn lướt hay nhìn chằm chằm.
Tùy theo sự lựa chọn chủ đề của mình, như nhìn một vật để trước mặt, nhìn quang
cảnh, nhìn mưa rơi, nhìn dấu chấm nhỏ ... Sau một thời gian thực hành, nếu vững
vàng cách nhìn này, ta sẽ thành tựu "Thấy không dính sắc." Lăng
nghiêm. "Thấy như mù." hay "Thấy, biết thuần tịnh." Pháp
Hoa hoặc "thấy như thật." Nguyên Thủy.
2.
Sử dụng nhĩ căn:
--
Nghe: Không lập lại nội dung âm thanh, không tìm hiểu ý nghĩa âm thanh.
"Phản văn, văn tự tánh = Xoay cái nghe vào tánh nghe." Thiền tông.
"Nghe tiếng không kẹt tiếng." Lăng Nghiêm. "Nghe như điếc."
3.
Sử dụng thân căn:
--
Đi: Thiền hành vô ngôn. Nguyên Thủy.
--
Thở: "Định niệm hít vào thở ra." Nguyên Thủy.
--
Làm các động tác tay, chân: Lái xe vô ngôn, Lặt rau vô ngôn, Rửa chén vô ngôn,
Mặc áo vô ngôn, Ăn vô ngôn, Nhổ cỏ vô ngôn, May vá vô ngôn, Hút bụi vô ngôn.
Thiền tông.
--
Ngồi: Không nói thầm trong não. --"Đất tâm nếu không, Mặt trời trí huệ tự
chiếu." Thiền tông.
4.
Sử dụng ý căn:
--
Không suy nghĩ = không nói thầm trong não. "Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt." Thiền Đại Thừa. "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác."
"Đối cảnh vô tâm." Thiền tông.
"Gặp
Phật giết Phật, Gặp ma giết ma." Thiền tông
--
Dẹp bỏ cái bị sanh, Cắt đứt đám rối tư duy. Nguyên Thủy.
5.
Ngoài ra có những chiêu thức được hướng dẫn riêng, quí vị nên kết hợp với các
chiêu thức.
KẾT
LUẬN
1.
Toàn bộ những phương cách nói trên, tuy mang nhiều tên, nhưng tựu trung đều sử
dụng phương tiện Ly Ngôn hay Không Lời do Phật và Tổ chỉ dạy để thực hành. Cốt
lõi của phương pháp thực hành đạt được cái vô sanh là tánh giác gồm 2 trọng
điểm:
1) BIẾT KHÔNG LỜI (nonverbal awareness).
2) ĐỐI TƯỢNG BIẾT (the object of
awareness) và TÁNH BIẾT (the nature of awareness or the awareness).
2.
Đức Phật nói: "Đạo của Ta là ly ngôn tịch diệt." Tổ Đạt Ma nói:
"Giáo là lời, không phải Đạo. Đạo là không lời. Ngay nơi ngươi đạt được
không lời, ngươi đạt Đạo." Mà đạt được đạo là gì ? Đó là "thấy
tánh." Vì khi thực sự đạt được không lời, tánh giác liền có mặt.
Không lời càng sâu, tánh giác càng trở nên có mặt thường trực. Lúc bấy giờ chỉ
còn lại sự tĩnh lặng rộng lớn (the vast stillness) trong chân tâm; mọi khái
niệm phân biệt (conceptional distinctions) và sự hiểu biết thông thường
(ordinary understandings) của tự ngã hay vọng ngã hoàn toàn biến dạng. Thuần
giác (pure awareness) trở nên bao la. Trí vô sư hiển lộ, và kho tàng
vô giá không còn là sự kiện ẩn dụ.
3.
Vấn đề còn lại là sự dụng công miên mật. Thiếu dụng công, lý thuyết trở thành
mớ giấy lộn, đường thiền không thể tiến lên được.
HẾT
________________________________________________________
(1) Năm chướng ngại: P: pancanivarana: the Five Impediments:
1)
Tham dục (dính mắc và say đắm năm thứ khoái cảm của ngũ quan, gồm tiền bạc, dâm
ô lãng mạn, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ) P: kammachanda: Lustful desire,
2)
Sân (giận dữ trước những cảnh chướng tai, gai mắt hoặc không vừa ý với tình cảm
riêng của mình): P: Vyàpàda: Anger,Ill-will,
3) Hôn trầm thụy miên (uể oải và
ngủ gật): P: Thinamiddha: sloth and drowsiness,
4) Trạo hối (tâm lo ra, nghĩ
tưởng lăng xăng và lo lắng, phiền não về những việc đã làm): P:
Uddhacca-kukkucca: Agitation and worry,
5) Hoài nghi (thiếu niềm tin vào pháp
học và pháp hành): P: Vicikicchà: skeptical doubts