HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Thích Nữ Hằng Như: Tương Ưng Giữa “Giới-Định-Huệ” Và “Bát Chánh Đạo”

Wednesday, July 8, 20204:49 PM(View: 1692)

TƯƠNG ƯNG GIỮA “GIỚI-ĐỊNH-HUỆ”
VÀ “BÁT CHÁNH ĐẠO”

 

 

I. DẪN NHẬP

Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau. Pháp thực hành ban đầu có khác, nhưng tất cả đều nhắm đến mục tiêu cuối cùng. Đó là giúp cho mỗi hành giả thân tâm được thanh tịnh. Nhờ tâm thanh tịnh nên dễ dàng phát sanh trí huệ, đi đến chỗ hoàn toàn giải thoát giác ngộ. Vì thế, Giáo pháp của Đức Phật nhìn chung có nhiều pháp môn, nhưng xem xét kỹ lại thì không ra ngoài ba yếu tố căn bản là “Giới, Định, Huệ”.

       Giới-Định-Huệ là ba môn học của Phật giáo, trong kinh gọi là “tam vô lậu học” tức ba môn học giúp hành giả vượt thoát sự trói buộc của mọi phiền nãolậu hoặcđạt được trạng thái tâm thuần tịnh, trong sáng, định tĩnh,  tự do, tự tại… Từ đó đưa đến giác ngộchứng nhập quả vị giải thoát hoàn toàn.

      Muốn thân tâm trong sạch thanh khiếtĐức Phật đưa ra nhiều pháp tu trong đó có pháp tu Bát Chánh ĐạoBát Chánh Đạo là đế thứ tư trong bài kinh “Tứ Diệu Đế”, là Đạo Đế trong bốn đế gồm Khổ đếTập đếDiệt đếĐạo đế là con đường tu chân chánh gồm tám chi, đó là: Chánh KiếnChánh Tư DuyChánh NgữChánh NghiệpChánh MạngChánh Tinh TấnChánh Niệm và Chánh ĐịnhHành trì nhuần nhuyễn tám pháp này hành giả sẽ đạt được sự trong sạch toàn bộ về thân-khẩu-ý, đồng thời khi tâm hành giả hoàn toàn yên lặng thì “tiềm năng giác ngộ” tức Tánh giác hiển lộtrí huệ tâm linh phát huy.

      Kết quả cuối cùng của “Giới-Định-Huệ” và “Bát Chánh Đạo” có điểm giống nhau là thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Như vậy hai pháp này có sự tương đồng với nhau. Mà tương đồng như thế nào? Chúng ta thử tìm câu giải đáp đó qua đề tài: “Tương Ưng Giữa Giới Định Huệ Và Đạo Đế: Bát Chánh Đạo”.

      

 II. TÌM HIỂU KHÁI QUÁT VỀ TAM LẬU HỌC “GIỚI, ĐỊNH, HUỆ”

 A. GIỚI HỌC

 

         -  Giới: Tiếng Pāli là “Sila”, được hiểu là những điều răn, những lời dạy của Đức Phật nhằm ngăn ngừa hoặc đình chỉ các nghiệp ác do thân-khẩu-ý sanh ra, và từ đó có khả năng làm tăng trưởng nghiệp thiện. Như vậy Giới đặt trên căn bản để giữ thân-tâm được thanh tịnhdần dần triệt tiêu những phiền não tham, sân, si.  

       Giới được đặt trên nền tảng tự lợi và tự tha. Đối với tự thân mình, Giới giúp hành giả nâng cao phẩm cách trở nên một người cao thượng được sự kính trọng quý mến của người chung quanh. Giới giúp gia tăng phẩm chất đời sống tu hành, vì thân-khẩu- ý không bị ô nhiễm. Giới giúp tâm trí được hài hòa, an nhiêntự tạidần dần dẹp được lậu hoặc…  Đối với tha nhân, nếu hành giả trì Giới đúng, người đó có cuộc sống hài hòa đạo đức, sẽ ảnh hưởng tốt tới những người chung quanh. Ngoài ra, trên con đường tâm linh, nghiêm trì Giới Luật sẽ giúp hành giả vượt qua những khó khăn trong việc thiền Định và phát huy trí huệ. Mặt khác, người có Giới đức là người đức hạnhđức hạnh là hành trang, là thuyền bè đưa hành giả vượt thoát biển khổ luân hồi.

         Giới luật được xem là phương tiện để ngăn chặn những điều ác phát khởi qua thân-khẩu-ý.  Đồng thời đoạn trừ những phiền não xuất hiện trong tâm. Như vậy về phương diện tự lợi, Giới giúp cá nhân hành giả trở nên một con người có tư cách với nếp sống đạo đức. Về phương diện tự tha, Giới luật chính là sự nỗ lực thực hiện các điều thiện lành mang lợi ích cho chúng sanhÝ nghĩa đó được tóm gọn trong bài kinh Pháp cú 183 như sau:

                               Chư ác mạc tác (Không làm các điều ác)              

                               Chúng thiện phụng hành (Làm các việc lành)                  

                               Tư tịnh kỳ ý (Giữ tâm ý trong sạch)

                               Thị chư Phật giáo(Đó là lời Phật dạy)

         Giới có nhiều mức độ từ 5 Giới, 10 Giới đến 250 Giới hay 348 Giới, có Giới trọng (tội nặng), Giới khinh (tội nhẹ), Giới tướng (những lỗi được gọi tên), Giới thể (Giới trong sạch tâm) v.v…   Ngoài ra, Giới được chia thành hai loại: Giới Thế Gian và Giới Xuất Thế Gian.

   

      1) Giới thế gian: Giới luật này đồng nghĩa với luân lý đạo đức, sống hướng thượng đưa đến quả báo hữu lậu, được hưởng phước Nhân Thiên. Gọi là phước hữu lậu vì vẫn còn phải chịu luân hồi trong ba cõiDục giớiSắc giớiVô Sắc giới.            

          - Thí dụ 5 giới thuộc về nhân thừa: Là đệ tử tại gia, tự nguyện thọ Tam quyngũ giới, tức là nương tựa vào Tam Bảochấp nhận giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật là: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu hay xử dụng chất say nghiện. Người giữ được năm Giới này, khi thân hoại mạng chung được tái sanh trở lại Cõi Người.

          Thập thiện nghiệp giới: Người Phật tử cũng có thể tự nguyện thọ trì thập thiện nghiệp giới nghĩa là giữ 10 giới, gieo nhân tốt, đời sau gặt kết quả tốt đẹp là sanh lên cõi Trời, hưởng phước lạc đầy đủ. Mười giới đó là: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cướp; 3. Không tà dục; 4. Không nói dối; 5. Không nói thêu dệt; 6.  Không nói lưỡi hai chiều; 7. Không nói lời hung ác; 8. Không tham muốn (Tham); 9. Không giận hờn (Sân); 10. Không si mê (Si).

     

   2) Giới xuất thế gian: Là Giới đưa hành giả đến quả vị vô lậu, tức được tự tại thoát khỏi tam giới, không còn bị rơi trong vòng sanh tử luân hồi.

       Thí dụ người thực hành Giới Tỳ-Kheo hay Tỳ-Kheo-Ni chuyên cần đến mức  hoàn hảo, đoạn trừ năm hạ phần Kiết Sử và năm thượng phần Kiết Sử.

                 1-2: Năm hạ phần Kiết sử: 1) Thân kiến (tin cái ngã thật sự hiện hữu,  đồng hóa cái Ta là ngũ uẩn); 2) Hoài nghi Tam Bảo (không tin Phật, Pháp, Tăng); 3) Giới Cấm Thủ (tin tưởng sai lầm cho rằng các pháp tu khổ hạnh sẽ đưa đến giải thoát; hoặc tuân thủ các hình thức nghi lễ tôn giáo rườm rà mê tín dị đoan…); 4) Tham (tài, sắc, danh, thực, thùy);  5) Sân (Tức giận, căm thù).

                   2-2: Năm thượng phần Kiết sử: 1) Sắc ái (Tham ái cõi dục sắc giới là cõi chúng sanh có thân và tâm); 2) Vô Sắc ái (Tham đắm với cõi dục Vô Sắc. Đây là cõi chúng sanh không còn thân, họ sống với Thức. Hoặc chúng sanh ở cõi này, có hình tướng nhưng rất vi tế, mắt phàm phu không thể thấy được); 3) Mạn (Có 3 loại: Thắng mạn là tự phụ cho mình cao quý hơn, giỏi hơn; Đẳng mạn tự phụ cho mình ngang bằng; Ty liệt mạn là tự ty cho mình thua kém) 4) Trạo Cử (Thân tâm lăng xăngdao động); 5) Vô Minh (không hiểu biết các pháp Phật dạy).

        Vị tỳ kheo hay tỳ-kheo-ni nào nghiêm trì Giới vô lậudiệt bỏ năm hạ phần Kiết Sử và năm thượng phần Kiết Sử kể trên, vị ấy đã diệt tận mọi khổ đau phiền não gọi chung là lậu hoặc, vị ấy hoàn toàn giải thoát nhờ Chánh tríđắc quả A-La-Hán.  Giới này mới thực sự đúng nghĩa là “Giới Vô Lậu”.

         Tóm lạiGiới là nền tảng của đạo Phật, là một trong ba môn học “vô lậu” nhằm chấm dứt các lậu hoặc đưa đến giải thoát. Trên mặt lý thuyết, Giới giữ một vai trò quan trọng, vì Giới chiếm một phần ba của Tam Tạng kinh điển. Đó là Luật Tạng, hai tạng kia là Kinh tạng và Luận tạng. Về mặt thực hành, Giới đóng vai trò mấu chốt trong đời sống Tăng đoàn. Một người muốn xuất gia cầu đạo, trước hết phải thọ Giới Sa Di (10 Giới). Sau một thời gian tu tập Giới đức, mới được thọ Cụ Túc Giới. Cụ Túc Giới là Giới Tỳ Kheo (nam tu sĩ) 250 Giới. Sa-di-ni phải qua thời gian thọ Thức-Xoa Ma-Na Ni Giới (Căn bản 4 Sự, 6 Pháp, 292 hành pháp), rồi mới thọ Tỳ kheo ni 348 Giới.

 

B. ĐỊNH HỌC

        - Định: Tiếng Pāli là “Samādhi”.  Người Trung Hoa dịch là “Tam muội”. Định mang nhiều ý nghĩa như: Tập trung (concentration); làm cho chắc chắn, không dao động (make firm); sự tĩnh lặng (tranquillity); sự yên lặng (calmness); trạng thái tập trung sâu (a deep concentrated state)

        Trong Trung Bộ Kinh 1, có hai định nghĩa về Định:

        Bài Kinh số 30Định là “Nhất tâm” (P: cittass’ekaggatā: mental one-pointedness) cũng có nghĩa là “Nhất niệm”. Đây là trạng thái tâm đồng nhất với đối tượng, nơi đó không có Ý thức hiện hữu mà chỉ có “đơn niệm biết” (a single thought of awareness). Nghĩa là tâm hoàn toàn yên lặng không dao động (wavering) bởi các đối tượng bên ngoài giác quan.

         - Bài Kinh số 36: Định được xem là “trạng thái tâm thuần nhất” (P: Cetaso ekodi: unity of the mind). Đây là trạng thái tĩnh lặng của tâm (a state of mental tranquillity) hay trạng thái không hai của Ý thức (A nondualistic state of consciousnesss). Trong đó nội tâm thiền gia không còn Tầm Tứ (trạng thái tâm không còn chú ý (tầm) và bắt dính (tứ) theo đối tượng).

         - Theo Thiền tông, trong “Pháp Bảo Đàn Kinh”, Lục Tổ Huệ Năng mô tả: “Nội tâm bất loạn là Định”; Ngài Hàn Sơn thì nói: “Bát phong xuy bất động” nghĩa là tám gió thổi, tâm không động, là Định. Tám gió này là: Lợi (lợi lộc); Suy (suy sụpsuy đồi); Hủy (phỉ báng, làm ô nhục); Dự (lời ca tụngtán dương); Xưng (khen tặng, đề cao); Cơ (chê bai, nói xấu); Khổ (sự đau khổ hay bất toại nguyện); Lạc (vui vẻ hay an lạc).

        - Tổ sư Thiền Chân Không-Thường Chiếu là Đại Lão Hòa Thượng Trúc Lâm tại Việt Nam cũng dạy môn đệ: “Vọng tưởng dừng là Định”. Do đó, nếu người hành thiền dừng được vọng tưởng một phút thì người ấy đạt được Định một phút, dừng được 30 phút thì đạt được Định 30 phút.

       Nhưng điểm cần lưu ý là khi vọng tưởng dừng thì cái gì xảy ra trong lúc đó? Cố Hòa Thượng Thông Triệt (Thiền Tánh Khônggiải thích về trạng thái Định như sau: “Đó là cái biết thường hằng lặng lẽ hay trạng thái biết không lời của tánh giác”. Bởi vì muốn đạt được “tâm thuần nhất” hay “tâm bất loạn” hoặc “tám gió thổi không động” thì người thực hành thiền phải đạt được cái biết không lời. Nếu biết có lời, dù lời rất đúng vẫn không phải là tâm thuần nhất. Cho nên khi rơi vào trạng thái Định mà tâm ngôn vẫn còn khởi lên thì Đức Phật gọi đó là Định Có Tầm Có Tứ” tức Sơ Thiền. Còn tâm ngôn yên lặng, Phật gọi là “Định Không Tầm Không Tứ”. Đây chính là tầng thiền thứ Hai còn gọi là Nhị Thiền.

         Vì Định có nhiều mức độ, nên trong phạm vi kỹ thuật, Định còn có nghĩa là   cái “khung”. Trong cái khung đó chứa nội dung thực hành. Nội dung này chính là chủ đềthiền gia chọn áp dụng vào việc hành trì của mình. Nền tảng cái khung đó được đặt trên “cơ sở năng lượng biết của Tánh giác”. Năng lượng biết càng mạnh, Định lực càng sâu. Chính vì thế, ở phạm vi này Định được xem là một tiến trình được hình thành trên cơ sở sức mạnh của Tánh giác hay Tánh biết. Khi Tánh biết chưa vững chắc, chưa trở thành sức mạnh thì Định chưa có mặt.”  

        Trong đạo PhậtĐịnh không phải là mục tiêu chính, mà chỉ là cái cầu để bước tới Huệ. Tuy nhiên muốn Huệ phát sáng, thiền gia nhất định phải thông qua Định để phát triển năng lực biết vững chắc, hầu khai triển tiềm năng giác ngộ, tức Phật tánh. Như vậy, Định một mặt là phương tiện cơ bản để đạt được Huệ tức Giác ngộ, mặt khác Định là tác nhân đào thải tận gốc tập khí hay lậu hoặc đưa đến Giải thoát.

                                    

C.  HUỆ HỌC

      Như trình bày ở trên, Huệ là một môn học trong ba môn “Giới-Định-Huệ”. Danh từ Huệ thường đi chung với từ Trí gọi là Trí HuệTrí Huệ trong giáo lý nhà Phật còn gọi là Bát NhãBát Nhã là Hán ngữ dịch âm từ tiếng Panna (Pāli) hay Prajna (Sanskrit) có nghĩa là sự phát sáng của trí hiểu biết, sau khi tẩy sạch phiền não và vô minh.

                 

1) Trí thức hay Kiến thức thế gian

      Trình bày về sự hiểu biết của con ngườichúng ta cần phân biệt Trí Thức khác với Trí HuệTrí thức hay Kiến thức là những người có học thức, có bằng cấp thế gian. Người trí thức được xem là người thông minh vì có sự hiểu biết rộng rãi. Những hiểu biếtnhận thức đó đến từ bên ngoài, được tích lũy từ gia đình, trường lớp, rút tỉa kinh nghiệm thành công hay thất bại trong đời sống. Cái biết này, hay nhận thức này, được xem như là cái biết hay nhận thức của thế gian, nên gọi là “Tục đế.”

                       

2) Trí Huệ trong đạo Phật

      Trí Huệ là nhận thức biết, phát xuất từ bên trong do tu tập thiền Định mà có. Đây là nhận thức xuất thế gianTrí Huệ (Bát Nhã) có hai cấp bậc:

                  a) Thấp là Trí: Nāna (P); Jnāna (Skt). Tiếng Anh là: Insight. Trí này là trí hiểu biết về Phật pháp do học hỏi từ các bậc Thầy hay từ trong tam tạng kinh điển. Sự hiểu biết này, tuy có mùi vị đạo nhưng vẫn còn thuộc về Kiến thức (Phật học) bởi do học từ bên ngoài.

         Thí dụChúng ta nghe các bậc Thầy giảng về Chân lý Tứ Diệu Đếchúng ta hiểu rõ bốn đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo thì chúng ta “có tuệ tri về Khổ đếTập đếDiệt đếĐạo đế”. Hay chúng ta học và hiểu rõ chủ đề: Lý Duyên KhởiMười hai Nhân Duyênchúng ta “có tuệ tri về Lý Duyên KhởiMười hai Nhân Duyên” v.v… Trí này không phải do tự chúng ta biết, nên vẫn bị xem là tục đế. Nhưng vì chuyên học và ghi nhận những Nhận thức của Đức Phật chứng ngộ nên được xếp là Tục đế Bát nhã”.

                   b) Cao hơn Trí là Huệ (Bát Nhã): Paññā (P); Prajñā (Skt), tiếng Anh là Wisdom. Là Trí Huệ tự phát, do công phu tu tập thể nhập thiền ĐịnhThể nhập có nghĩa là qua dụng công thực hành, Ta và đối tượng là một. Nhưng muốn đạt được Huệ phải đi từ Trí, nghĩa là học hỏi từ bậc Thầy, rồi thực hành thiền Định để kinh nghiệm Thân chứngTâm chứng và Trí chứng.

        Trí Huệ này là Huệ siêu vượt (Transcendental wisdom), có nhiều tên gọi khác như: Huệ Bát Nhã, Huệ tự phát hay Phật tánh, hoặc tiềm năng giác ngộChân Như ..v.v… được xếp là Chân đế Bát nhã”.

 

3. Đặc điểm của TUỆ TRÍ và HUỆ (BÁT NHÃ)

 

            - TRÍ (hay TUỆ TRÍ): (Trí căn: Vùng Tiền trán, bán cầu não trái và phải).  Hiểu biết hay Nhận thức giới hạn trong chủ đề học. Là cái biết có lời.  Cái biết hữu Sư do học từ kho báu của Đức Phật, học từ sự truyền dạy của các bậc Thầy. Có người học nên có Ngã. Kết quả có tuệ tri về những điều đã học.  Lậu hoặc vẫn còn nhưng nằm yên. Chưa thoát khỏi luân hồi. Được xếp là Tục đế Bát Nhã.

         - HUỆ (hay TRÍ HUỆ): (Huệ căn: Phía sau bán cầu não trái). Cái biết không lời của Tánh nghe, Tánh thấy, Tánh xúc chạm. Nguyên tắc phát huy Huệ lực ở giai đoạn này do tác động của phản xạ giác quan.  Tâm trong giai đoạn này được xem như là Tâm bậc Thánh.

        Sâu sắc hơn là Tâm Phật (Tánh Nhận Thức Biết). Giai đoạn này mới là Huệ Bát Nhã, tức Huệ tự phát do hành trì nhập Định sâu, rơi vào phản xạ thụ động kích thích tiềm năng giác ngộ phát Huệ. Trí huệ này là kho báu của hành giả, Vô NgãVô Sư, không lời.  Trí huệ tâm linh phát huy vô hạn. Kết quả do dụng công, Định-Huệ đồng thờiChấm dứt lậu hoặcChấm dứt luân hồiGiải thoát. Đây mới thực sự là Chân đế Bát nhã.

 

4. TU TẬP ĐỂ THÀNH TỰU HUỆ BÁT NHÃ

 

       Có 4 mức độ tu tập, bắt đầu từ Trí Thế Gian, Trí Bậc Thánh, Thượng Trí, Trí Bát Nhã.

 

           1. Trí Thế Gian (Tâm trí phàm phu): Là trí học hỏi, cóp nhặt, tổng hợp từ trường lớp có khả năng hiểu biết (knowledge) về Lý luận, Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật v.v…  Tất cả những hiểu biết này là sự lặp lại từ hiểu biết của người khác, không có sự sáng tạo của riêng mình.  Do cái Ngã làm chủ nên có nhiều tham sân si. Lúc nào cũng ganh đuatranh đấu để đạt được điều mình muốn. Bên dưới tâm phàm phu đầy rẫy tập khílậu hoặckiết sửtùy miên. Mớ ô nhiễm này luôn chi phối ảnh hưởng lên thân-khẩu-ý tạo nhiều nghiệp. Trí này là Trí thế gian, tuy có giúp ích cho cuộc sống con người, nhưng đa phần huân tập phiền não khổ đau. Khi quá mỏi mệt với những lụy phiền, vui ít buồn nhiều như vậy, Trí năng chợt tỉnh ngộ muốn thoát ra khỏi những ràng buộc của sầu, bi, ưu, khổ, não. Ước muốn này, là giai đoạn đầu tiên, Tâm phàm phu quyết định tìm Thầy học đạo.

 

            2. Trí Xuất thế gianTrí năng tỉnh ngộ hướng dẫn Ý cănÝ thức học hỏi Phật pháp như: Tứ Diệu ĐếTam pháp ấn;  Lý Duyên Khởi Pháp Duyên Sinh; Tương quan nhân quả; Quán, Chỉ, Định, Huệ ;  hiểu biết  Tánh giác, tâm Phậthiểu biết con đường tu tập (37 phẩm trợ đạo) để chấm dứt lậu hoặc v.v…

        Trí năng tỉnh ngộ học hỏi nên cái biết của Trí này là Cái Biết Có Lời. Học từ Thầy, từ kho báu của Đức Phật nên là Trí Hữu Sư. Trong lúc học Phật pháp tâm yên lặng, lậu hoặc không khởi lên, ngang với Tánh giác nên tạm xem đây là Trí của bậc Thánh.

         

           3. Thượng Trí hay Trí Siêu Vượt: Trí năng tỉnh ngộ học những pháp cao siêu hơn trong Pháp Phật đó là các chủ đề về:  Như ThậtChân Như, Không, Huyễn đạt được Như Thật TríChân Như Trí, Không Trí hay Huyễn Trí.

       Người có Thượng Trí cũng học giáo lý từ Thầy, từ kho báu của Đức Phật. Tuy còn Biết Có Lời nhưng trong lúc học Pháp, lậu hoặc không khởi lên, nên cũng có thể sánh ngang với Tánh giác ở mức độ cao như Nhất Thiết Chủng Trí, nhưng chưa chứng ngộ vì chưa thực hành, chưa thể nhập.

       

           4. Thực hành để Huệ Tự Phát (Phật tánhtiềm năng giác ngộ): Sau khi thông hiểu nhuần nhuyễn giáo lý, bây giờ là giai đoạn thiền Định. Tiến trình dụng công từ Biết Không Lời (Chánh niệmthực hiện các chủ đề liên quan đến Tánh Nghe, Thấy, Xúc chạm qua phản xạ giác quan). Ở mức độ này Huệ bắt đầu phát huy nhưng đơn sơ.

Tiếp theo, để an trú trong Nhận Thức Biết Không Lời thiền gia thực hành chủ đề siêu vượt bằng cách khởi ý chủ đề rồi buông. Kỹ thuật này kích thích phản xạ thụ động, phát ra những điều mới lạ gọi là Ngộ hay Chứng Ngộ (Realization hay Enlightenment) trên ba mặt: Thân, Tâm và Trí như: Trực giác, siêu trực giác, tánh sáng tạo, từ trường tứ vô lượng tâm (từ bi, hỷ, xả); biện tài vô ngại v.v… Những đặc điểm kể này phát huy từ thấp đến vô lượng. Đây mới chính là kho báu của hành giả tu tập từ Biết Có Lời đến Biết Không Lời, an trú trong Nhận Thức Không Lời.

       Tóm lại học và hiểu pháp thế gian thì gọi là Trí Thức, học và hiểu pháp Phật thì gọi là Trí (Tuệ). Tọa thiền dụng công có kinh nghiệm trên Thân, Tâm, Trí là Huệ (Bát Nhã).

 
III.  BÁT CHÁNH ĐẠO: TÁM CON ĐƯỜNG CAO THƯỢNG

 

      Bát Chánh Đạo là Giáo Pháp nồng cốt, thực tiễn mà Đức Phật đã chứng đạt trong tầng thiền thứ Tư. Bát Chánh Đạo hay Đạo đế là phần cuối của bài Pháp Bốn Chân Lý Cao Thượng (Tứ Diệu ĐếKhổ đếTập đếDiệt đế, và Đạo đế) được Đức Phật giảng đầu tiên cho nhóm năm anh em đạo sĩ Kiều Trần Như, đồng tu cũ với Phật. Trước tiên Ngài muốn năm vị này nhận rõ Con đường đi đến giải thoát không phải bằng khổ hạnh thái quá, cũng không phải bằng sự lợi dưỡng thái quá; mà bằng Con đường Trung đạo.

       Đạo đế hay Bát Chánh Đạo là Con đường đưa đến chấm dứt toàn bộ Khổ. Đây là phương pháp đưa đến chấm dứt “xung đột” nội tâm, và chấm dứt luân hồiPhương pháp này gồm tám chi phần, mỗi chi phần được ghép thêm thuật ngữ “sammã” có nghĩa là “kiện toàn” hay “hoàn toàn” (perfect) thường được dịch là “Chánh” (right). Vì là pháp tu đưa đến đắc quả A-La-Hán, nên các nhà Phật giáo Theravāda xem đây là Thánh Đạo. Những ai còn dính mắc nhiều với tâm phàm phu hay tâm nhị nguyên, thì không thể hội nhập vào Con Đường này.

       Thông qua học và thực hành Bát Chánh Đạohành giả sẽ tự mình thay đổi những quán tính cũ do bị trói buộc bởi Kiết Sử: từ truyền thống gia đình, học đường, xã hộitôn giáo hay tín ngưỡng. Khi thực sự thông hiểu Bát Chánh Đạohành giả sẽ nhận ra chân tánh hiện tượng thế gian qua những quy luật Vô thường, Khổ, Vô ngãDuyên sinh hay Tương quan Nhân QuảHành giả chuyên cần tu tập Bát Chánh Đạo sẽ đưa đến kết quả thân-tâm hài hòa, trí huệ tâm linh phát huy, bước vào dòng Thánh.

IV. KHAI TRIỂN KHÁI QUÁT VỀ “BÁT CHÁNH ĐẠO”

        Bát Chánh Đạo gồm tám chi hay tám phần: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

 

       1. Chánh Kiến: Là thấy đúng, nhìn đúng, hiểu biết đúng, là nhận thức sáng suốt hợp lý trên căn bản đạo đức của cuộc sống. Có trí tuệ nhận biết sự việc nào đúng, sự việc nào sai, sự việc nào thiện, sự việc nào ác. Nhận thức đúng về bản thể của vạn vật là Vô thường, Khổ, Vô ngã, về Lý Duyên khởi Pháp Duyên sinh, về Thập nhị nhân duyênNhận biết đúng về Khổ, nguyên nhân của Khổ, sự diệt Khổ và Con đường đưa đến hết Khổ. Hiểu thế nào là Trung đạokhông Chấp thường, Chấp đoạn v.v…

        Khi Chánh kiến có mặt thì Trí năng không còn mê chấp, nó chuyển hóa khiến tâm người phàm phu trở thành tâm cao thượng. Cho nên Chánh Kiến là bước quan trọng đầu tiên đưa đến tuệ trí.

 

       2. Chánh Tư Duy: Là suy nghĩ chân chánh, đúng đắnChánh Tư Duy là không để đầu óc mình suy nghĩ về những điều bất thiện như tham dụcsân sinão hại. Nếu ý nghĩ không chân chánh, bất thiện, ác độc…  thì hành động tiếp theo là thân và lời sẽ theo đó mà phát sinh hại người và hại cả mình. Cho nên Chánh Tư Duy là hướng sự suy nghĩ theo chiều thiện lành, buông thả những gì cần buông thả, suy nghĩ về con đường giải thoáttừ bi hỷ xả giúp đỡ chúng sanhnuôi dưỡng tinh thần bất bạo động, nhẫn nhịn và trầm tĩnh.

 

       3. Chánh ngữ: Ngôn ngữ đúng đắn, ngay thẳng, không thiên vị, không dối trá, không nói lời chia rẽ, xuyên tạcdua nịnh không nói hai lưỡi hay hung bạo căm thù. Ngược lại lời nói mang tính cách nhu hòa chánh trực, sách tấn, khuyến tu. Nói những lời lẽ tạo niềm tinxây dựng đoàn kết, tương thân hòa hợpthương yêu và lợi ích chung.

      

      4. Chánh nghiệp: Hành vi có tác ý đúng đắn, hành động chân chánh, phát xuất từ Chánh KiếnChánh Tư Duy là Chánh Nghiệp. Người sống với Chánh Nghiệp là người không tạo Nghiệp ác bởi hành động sát sanh. Người đó không trộm cướp, không hành dâm phi pháp, không vọng ngữ, không tham, sân, si. Nói chung là giữ ba nghiệp thân-khẩu-ý thanh tịnh đưa đến một đời sống hiền lươngtrong sạchđạo đứcNgoài ra, ở mức độ cao hơn trong Đại Kinh Bốn MươiĐức Phật phân biệt có hai loại Chánh Nghiệp.

        a) Thực hiện những việc có ích lợi cho mọi người bằng tâm rộng lượnghòa hợp, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không tham, sân, si. Đó là những việc làm tốt tạo Thiện nghiệp. Khi thực hiện những công tác thiện lành với tâm mong cầu có được phần công đức, thì Thiện nghiệp này thuộc Chánh nghiệp hữu lậu, vẫn còn bị tái sanh.

        b) Làm việc thiện với tâm cao thượng, tức làm trong Chân tâm hay Tánh giác hoặc trong niệm Vô niệm. Trong tiến trình làm việc, lậu hoặc không sinh khởi. Đây là Chánh nghiệp Vô lậu. Khi làm việc như thế, hành giả không mong cầu quả báo thiện trong đời này hay đời sau. Đây là Chánh Nghiệp hoàn hảo của bậc Thánh.

      

     5. Chánh mạngMạng là thân mạng, sự sống của mình. Chánh mạng là đời sống chân chánh, nghĩa là nuôi sống thân mình bằng nghề nghiệp chân chánh lương thiện, không bóc lột, lừa gạt, xâm hại đến lợi ích của người khác, không buông lung lười biếng, nương tựa ăn bám vào người khác. Không sống bằng nghề nghiệp bất thiện như buôn bán hàng lậu, cần sa, ma túy, không buôn bán sinh vật sống … Tóm lại Chánh mạng là sống thanh cao, đúng Chánh pháp.

      

     6. Chánh tinh tấn: Để hoàn thành mục tiêu của Bát Chánh Đạohành giả luôn nỗ lực cố gắng ngăn ngừa không làm những việc ác chưa sanh, quyết tâm chấm dứt điều ác đã sanh. Nỗ lực làm việc thiện và duy trì phát huy việc lành việc thiện.

         Đối với việc tu Thiền thì đây là nỗ lực làm sinh khởi niệm Chân Như hay Vô Niệm hoặc Nhận Thức Biết Không Lời. Tuy nhiênChánh Tinh Tấn đối với người tu Thiền là siêng năng, miên mật, nhưng không phải là sự nỗ lực hay cố gắng quá mức trong lúc tọa Thiền, bởi vì trong lúc tọa thiền càng tinh tấn, tâm càng có đối tượng để hoạt động. Không còn tinh tấn, tâm trở nên yên lặng. Lúc bấy giờ chỉ có niệm Biết hiện diện, mới thật an trú trong hiện tại bây giờ và ở đây.

      

      7. Chánh niệm: P: Sammã-sati, Skt: samyak-smrti (right awareness or right mindfulness). Là sự nhận biết đúng hoặc sự chú tâm đúng, thường được dịch sang tiếng Anh là “right mindfulness”. Trong Phật giáo từ “sati” có những nghĩa tương ứng với tiếng Việt như: suy nghĩ, sự nhớ lại, sự ngẫm nghĩ, sự chú ý, sự lưu tâm, sự chú tâm, sự nhận biết…

       

  Chánh niệm theo nghĩa thông thường:  Thông thường từ “sati” được dịch sang tiếng Anh là “mindfulness”, có nghĩa là “chú tâm”, “chú ý”. Khi “có chú tâm, chú ý” đến một Khách thể là đối tượng nào đó, tất nhiên phải có Chủ thể là Tự ngã (Trí năngÝ thức). Nếu không chú ý đến đối tượng hay công việc đang làm thì tâm sẽ lo ra, tạp niệm sẽ xen vào làm hỏng mục tiêu nhắm đến của chúng ta ngay. Trong chiều hướng này nội dung Chánh niệm có Trí năng, có tự ngã và có ý muốn đạt được điều gì. 

         Chánh niệm (mindfulness) này cần thiết cho những người tâm tưởng hay bị tán loạn, hoặc là ở bước đầu mới học Thiền, nhưng không phù hợp với Chánh niệm (awareness) trong Bát Chánh Đạo vì nó không giúp hành giả loại bỏ tâm nhị nguyên, dính mắc với ngoại trầnLý do là vì tâm chưa thuần nhất, Tánh giác chưa có mặt, hay tâm chưa ở trong trạng thái “trống không”, mà ở trong nhị nguyên có đối tượng, có Ta, có Trí năng, có mục đích, có ý đồ. Nói chung có sự đối đãi trong đó.

     

  - Chánh niệm theo nghĩa trong Bát Chánh ĐạoChánh niệm theo nghĩa của Bát Chánh Đạo là một loại kinh nghiệm thẳng về đối tượng không dựa trên suy nghĩtri thức và những cảm nghĩ của người khác hay của truyền thống hoặc qui ước xã hộiChánh niệm này không có nội dung, nghĩa là không bao hàm mục đích tìm tòi soi mói về tướng chung hay tướng riêng của đối tượng. Đây chỉ là sự nhận biết tức khắc, rõ ràng về đối tượng mà không có tự ngã. Do đó, khi xuất hiện trong Bát Chánh Đạo, “sati” có nghĩa là “sự nhận biết” (awareness). Sự nhận biết đối tượng mà vọng tâm không có mặt. Nó không giống như sắc thái “chú tâm”, “chú ý”.

         Tác dụng của Bát Chánh Đạo là dẹp tan năng lực của tự ngã, phát triển trí tuệ tâm linh. Nếu tu tập Chánh niệm, mà nội tâm lúc nào cũng dính mắc với hiện tượng thế gian thì không thể nào đạt được giác ngộ giải thoát. Vì thế, Chánh niệm theo pháp tu của Đức Phật, không phải là tâm tập chú vào ngoại trần.  Chánh niệm là cái biết rõ ràng mọi hành động và sự kiện trong hay ngoài thân mà không vướng mắc với nó, nghĩa là không có sự quyết đoán, so sánh, phủ nhận hay chấp nhận, tán thành hay không tán thành. Từ đó gốc rễ xung đột nội tâm không có cơ hội khởi phát.  Sự nhận biết này là “tuệ trí không lời” (wordless insight). 

        Chánh niệm là pháp được Phật dạy đệ tử áp dụng bất cứ lúc nào trong 4 oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, như lúc ăn uống, mặc áo, bước đi, xoay người, nhìn quanh, nằm xuống ..v.v….   Nếu thành tựu vững chắc, tâm sẽ luôn luôn ở trạng thái an lạcvọng tưởng không khởi, lậu hoặc không huân tập thêm và sáu căn không dính với sáu trần. Như vậy, Chánh niệm được xem là cội nguồn, là gốc rễ để tâm được an tịnh, nói cách khác Chánh niệm là nền tảng của Chánh định.

      

      8. Chánh định: Samā-Samādhi (p), Samyak-Samādhi (Skt): Chánh định là bước thứ tám trong Bát Chánh Đạo cũng là giai đoạn thứ tư trong Tứ Thiền do Đức Phật thiết lập. Đây là trạng thái hành không động.

      Chánh định là bước cuối cùng của Bát Chánh Đạo. Nó được đặt trên cơ sở Chánh niệm tức “niệm biết rõ ràng mà không lời”. Nó là trạng thái tâm định tĩnh, lặng yên vững chắc, với cái biết thuần tịnh (pure awareness) bên trong không có nhị nguyên. Sự nhận biết (awareness) đã trở thành một năng lực biết rõ ràng nhưng không dính mắc với cái gì hết. Và nó đã trở thành nhân chứng hoàn toàn khách quan. Thiền Nguyên Thủy có 4 tầng Định:

       

       1) Sơ Thiền: Tương đương với Định Có Tầm Có Tứ (Sát-Na Định) và Định Có Tầm Không Tứ, hoặc Sơ Định. Trong tầng Định này những đam mê ghiền nghiện tạm thời nằm yên nên tâm hành giả được an tịnh, niềm hỷ lạc xuất hiện. Trong kinh giải thích trạng thái hỷ lạc có được, là do Bồ Tát đã “ly dục và ly bất thiện pháp”.

      

       2) Nhị thiền: Nếu tiến trình tâm yên lặng kéo dài và sâu, “niệm biết” trở thành năng lực vững chắcngũ chướng (năm triền cái: Tham, sân, hôn trầmtrạo hối và nghi) yên lặng. Tầm và Tứ cũng yên lặng. Tâm hoàn toàn thanh tịnh. Cái Biết Không Lời của Tánh giác có mặt theo ý muốnHành giả cảm thấy hỷ lạc khắp toàn thân. Trong kinh giải thích trạng thái hỷ lạc này do Định sanh.  Đây là Định Không Tầm Không Tứ.

     

      3) Tam Thiền: Hành giả ở trong trạng thái Định Không Tầm Không Tứ.  Hỷ lạc tràn ngập khắp châu thân, nhưng tâm không còn dính với cảm thọ nữa. Trong kinh mô tả trạng thai này là “Ly hỷ trú Xả” hay “Chánh niệm tỉnh giác” nghĩa là hành giả biết rõ thân tâm có hỷ lạc, nhưng không dính mắc với hỷ lạc, mà chỉ trú trong Xả.  Xả là trạng thái tâm định vững chắc, nghĩa là không làm gì hết, nó hoàn toàn yên lặng, thanh thản nhưng có dòng Nhận thức biết không lời.

     

      4) Tứ Thiền: Tức Chánh Định. Đây là trạng thái ba hành không động: 1) Ngôn hành không động: Tầm tứ yên lặng. 2) Ý hành không động: Thọ, tưởng yên lặng. 3) Thân hành không động: Thân đã lặng yên trong lúc tọa thiền, bây giờ hơi thở ngưng từng chập thuật ngữ gọi là “tịnh tức”. Trong kinh gọi trạng thái này là “Định Bất Động” là Tâm Như. Ở trong Tâm Như, trí huệ tâm linh phát triển theo nhịp gia tăng cường độ của nhận thức biết không lời.

 

 

V. KẾT LUẬN

TƯƠNG ƯNG GIỮA “GIỚI-ĐỊNH-HUỆ” VÀ “BÁT CHÁNH ĐẠO”

 

       - “Giới-Định-Huệ” là môn học thù thắng giúp hành giả vượt khỏi sự trói buộc của phiền não lậu hoặc, phát huy trí huệ. Tuy phân làm ba để dễ dàng trong việc giải thích, thật ra chúng tương quan mật thiết và nương tựa lẫn nhau. Do giữ Giới mà thân tâm không loạn động, nên tâm trí được Định, nhờ đó trí não dần dần phát sáng, đó là Huệ. Ngược lại, trí não phát sáng thì tâm dễ Định, tâm đã Định thì giữ Giới dễ dàng. Giới-Định-Huệ tương liên mật thiết như vậy, pháp này tăng thì hai pháp kia cùng tăng theo và ngược lại.

      - “Bát Chánh Đạo” là tám phương pháp tu tập thực tiễn nhằm giúp hành giả vượt thoát biển khổ.  Tuy chia thành tám chi hay tám phần nhưng tất cả đều liên hệ mật thiết với nhau. Nếu thiếu Chánh KiếnChánh Tư Duy thì hành giả không biết phương hướng nào đúng để đi. Nếu thiếu Chánh NgữChánh NghiệpChánh Mạng thì hành giả sống trong buông lung tạo nghiệp chẳng lành. Nếu thiếu Chánh Tinh TấnChánh NiệmChánh Định thì không thể nào đoạn trừ lậu hoặc.

       Tu tập theo “Giới Định Huệ” hay “Bát Chánh Đạo” một cách đúng đắn, thì kết quả sau cùng là tâm hoàn toàn sạch lậu hoặc, tham, sân si… chứng quả vị A-La-Hán thoát khỏi luân hồi sanh tử.

        Nhìn chung, hai pháp tu “Giới-Định-Huệ” và “Bát Chánh Đạo” dù pháp tu chia thành nhiều phần khác nhau, nhưng cách tu rốt ráo cũng như nhau. Cho nên, hai pháp môn này có những điểm tương ưng với nhau như sau:

         1) Giới tương ưng với ba chi: Chánh NgữChánh Nghiệp và Chánh Mạng.

         2) Định tương ưng với ba chi: Chánh Tinh TấnChánh Niệm và Chánh Định.

          3) Huệ tương ưng với hai chi: Chánh kiến và Chánh Tư Duy.

       Tóm lạitùy theo căn cơ của chúng sanh mà Đức Phật có nhiều phương thức, nhiều pháp môn hướng dẫn đệ tử tu tập để đạt quả vị giải thoát tối hậu, nhưng chung quy cũng chỉ dựa trên cái sườn chính, đó là Tam Vô Lậu Học: Giới-Định Huệ. Học Giới-Định-Huệ là học cả ba tạng kinhHọc Giới là học Luật tạng. Học Định là học Kinh tạng. Học Huệ là học Luận tạngBước đầu tu tập hành giả phải học giáo lý để hiểu rõ và có nhận thức về những Nhận thức chứng ngộ của Đức Phật. Sau đó phải thực hành thể nhập những lời Phật dạy để trí huệ tâm linh của chính mình phát sáng.  Nếu lý thuyết giỏi, mà không có kinh nghiệm hành trì, thì kiến thức thu thập cũng không ích lợi gì, mà nhiều khi kiến thức đó chỉ tô bồi thêm cái Ngã ngày một lớn mà thôi!

                                     

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Chân Tâm thiền đường; 04-7-2020)
blankblankblankblank






.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, May 2, 20215:01 PM(View: 267)
Hôm nay, cảm niệm ân đức của Phật, của chư Tổ Thiền đức, của Thầy, con cúng dường lên Tam Bảo một đóa hoa tâm này. Con cũng riêng dâng tặng món quà nhỏ này cho người hữu duyên.
Monday, May 3, 202110:42 PM(View: 81)
Cái biết không nhị biên Là cái “biết không lời,” Nhìn, ngó biết khắp nơi, Nghe biết đều nhận tới, Xúc chạm đều nhận ra, Nhưng tâm chẳng dính mắc
Wednesday, April 28, 202110:08 AM(View: 441)
Người xưa thường ca ngợi Đức Phật là một người hoàn hảo, bằng 3 phẩm hạnh: Bi - Trí - Dũng. Hôm nay chúng ta thử tìm hiểu xem 3 phẩm hạnh đó là gì và làm sao đạt được?
Tuesday, April 27, 202110:17 AM(View: 244)
DISC 6 : 1. KINH BÀHIYA: 00:00 2. TÂM TRONG ĐẠO PHẬT: 44:06 3. CHỤP HÌNH LƯU NIỆM: 2:18:36
Sunday, April 25, 20218:42 PM(View: 198)
Vài Cảm Nghĩ Trong Ngày Họp Mặt TRUYỀN THỐNG THIỀN TÁNH KHÔNG NĂM 2021
Sunday, April 25, 20218:33 PM(View: 274)
“Ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp”. Đây là lời dạy của đức Phật dành cho tỷ-kheo Vakkali. Lời dạy này được ghi lại trong Kinh Tiểu Bộ và Kinh Tương Ưng.
Saturday, April 24, 20219:44 AM(View: 147)
Tâm chúng sanh: nghĩ tròn, nghĩ méo; Nghĩ thiệt-hơn, hơn-thiệt muôn điều, Nghĩ thiện-ác, phải trái, đúng-sai ngàn điệu; Nghĩ chánh-tà, ty tiện, cao siêu. Đố ai biết, các điều tâm nghĩ?
Wednesday, April 21, 20216:34 PM(View: 281)
Bhikkhuni Triệt Như - Sharing From The Heart - No 88: IN THE EVER-CHANGING RIVER OF LIFE Translated into English by Hoàng Liên Narrated by Phương Quế
Tuesday, April 20, 20215:01 PM(View: 723)
Ngày trước, Thầy thường so sánh “Tu Định như leo dốc núi mà bám trên rêu”. Trong thực tế, những nhà thám hiểm, leo núi phải có mốc sắt bám trên đá và có dây làm nấc thang mà leo lên.
Tuesday, April 20, 20214:41 PM(View: 213)
Khi tánh giác trong vai trò nhân chứng, Nó đứng nhìn mọi hoạt động của các căn:
Tuesday, April 20, 202112:40 PM(View: 580)
Phân biệt thuật ngữ Phật Tánh và Tánh Giác.
Sunday, April 18, 20218:31 PM(View: 222)
DISC 5 : 1. THIỀN HUỆ - KHÔNG DÁN NHÃN ĐỐI TƯỢNG: 00:00 2. THỰC TẬP KHÔNG NÓI – BƯỚC 1-2-3: 35:22 3. NGŨ UẨN – KINH VÔ NGÃ TƯỚNG: 1:01:15
Wednesday, April 14, 20218:52 PM(View: 738)
“Lối mòn” có nghĩa là một con đường nhỏ, có thể ít người muốn đi, vì nó không nổi tiếng, không được trang trọng trình bày trên kinh sách, hay trong các buối thuyết giảng có hàng ngàn người, hay hàng chục ngàn người tham dự
Tuesday, April 13, 20214:24 PM(View: 200)
This article is a recapitulation of the four previous articles on the same topic in which I asked you to identify the red-colored thread that runs through the chain of Bodhi beads of the Buddha, his holy bhikkhu disciples, Bodhisattvas, and spiritual practitioners like ourselves.
Tuesday, April 13, 202112:47 PM(View: 378)
DISC 4 : 1. KHÔNG NÓI – LÝ THUYẾT & THỰC HÀNH: 00:00​ 2. KỸ THUẬT KHÔNG ĐỊNH DANH ĐỐI TƯỢNG: 36:01​ 3. BÀI KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ: 1:11:46
Monday, April 12, 202110:21 AM(View: 209)
Không lời là bước một, Tắt ý là bước hai. Yên lặng trong lẫn ngoài, Dứt tiệt khổ trần ai.
Wednesday, April 7, 20214:51 PM(View: 433)
Hôm nay là ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 4, theo truyền thống trong Thanh Quy do Thầy chúng ta qui định, Ban Điều hành trung ương cố gắng tổ chức ngày Họp Mặt Truyền Thống cho tất cả Tăng Ni, tất cả các Ban Điều Hành Đạo Tràng và tất cả thiền sinh xa gần có cơ hội gặp gỡ nhau, cùng tường trình về những hoạt động của đạo tràng mình trong năm qua và hướng tiến sắp tới.
Wednesday, April 7, 20214:46 PM(View: 549)
Bài này xem như tóm kết lại 4 bài trước có câu hỏi về sợi chỉ đỏ xuyên suốt xâu chuỗi bồ đề của Đức Phật, xâu chuỗi bồ đề của chư Tỷ kheo bậc thánh đệ tử của Đức Phật, xâu chuỗi bồ đề của Bồ tát và xâu chuỗi bồ đề của chúng ta.
Monday, April 5, 202110:39 AM(View: 216)
Dứt tầm, tứ là phương tiện chiến thắng ta lý tưởng, Mọi tư duy, nghĩ tưởng, Mọi chấp tướng, chấp không,
Wednesday, March 31, 20214:45 PM(View: 625)
Trên đây, chúng ta cũng chỉ góp nhặt lại những giai đoạn thông thường của một đời người, tương tự đời bình thường của mình, có thể tạm chia ra ba khúc sông tâm: tâm đời (worldly mind), tâm đạo (religious mind) và tâm linh (spiritual mind).
Monday, March 29, 20218:56 AM(View: 245)
Trong hang tối, đóm lửa là ánh sáng, Đóm lửa trong hang là ánh sáng, Quên đi mặt trời tỏ rạng chiếu muôn nơi. Nếu ở hang làm sao nhìn thấy tới, Con đường nào là con đướng đến cảnh giới không hai?
Wednesday, March 24, 20217:12 PM(View: 760)
Vậy, chúng ta đã học và biết niết bàn là do tâm, địa ngục cũng do tâm. Sao không lo chuyển hóa cái tâm của mình. Mang cái tâm vô minh mà đi trong đời. Đi đâu cũng sẽ là địa ngục. Khi có trí tuệ, cảnh nào cũng là niết bàn.
Saturday, March 20, 20218:32 PM(View: 335)
Dụng công với chủ đề không Ý niệm không - không ý niệm, Ngã không Pháp không Thể nhập.
Friday, March 19, 202111:13 AM(View: 367)
Thường là thường hằng trong không dục vọng, Lạc là không còn chạy khắp tây, đông, Tìm vui sướng xác thân nhục dục. Ngã là luôn luôn bình thản bốn oai nghi
Wednesday, March 17, 20214:58 PM(View: 872)
Cuối cùng gút lại, Định hỗ trợ Huệ, Huệ hỗ trợ Định.... Định mà không có Huệ là si định hay tà định. Huệ mà không có Định làm sao phát huy Huệ bát nhã siêu vượt
Monday, March 15, 20214:19 PM(View: 274)
Thấy nó là Như Vậy Trong đó không có tôi Chỉ cái Thấy nó Thấy Không nói, Không lý luận
Monday, March 15, 20214:09 PM(View: 320)
"Lóe sáng biết" là yếu chỉ đi vào các từng định, Nó chính là phương tiện để đạt được cái VÔ SINH.
Wednesday, March 10, 20217:46 PM(View: 1299)
Trên đây chúng ta tạm vẽ lại sơ lược con đường tu tập của mình, Câu hỏi của cô là: cái gì là điều kiện quan trọng nhất trên con đường tu của mình? Hay sợi chỉ đỏ xuyên suốt xâu chuỗi bồ đề của mình là gì?
Wednesday, March 10, 20212:10 PM(View: 418)
Ai vì tự ngã thương Sẽ vì tự ngã ghét Chấp ta, người, hai bên, Ắt đi đến ưa, chán.
Sunday, March 7, 20213:18 PM(View: 372)
Cuộc hành trình từ im lặng, Ta Đến Nhà cũng lặng im. Nhưng im lặng, — không im lặng Vì ta đương lắng tâm ngừng suy nghĩ,
Thursday, March 4, 20218:50 AM(View: 954)
Câu hỏi của cô đặt ra cho chúng ta là: Cái gì xuyên suốt 10 giai đoạn tu tập này của bồ tát? Hay nói cách khác: Sợi chỉ đỏ xuyên suốt xâu chuỗi bồ đề của bồ tát là gì vậy?
Tuesday, March 2, 202110:39 AM(View: 767)
Thiền có những phương tiện để đạt từng mục tiêu. Ai nhắm mục tiêu nào, dùng phương tiện đó. Thầy Thích Thông Triệt thuyết giảng - (Tại đạo tràng Oregon)
Monday, March 1, 20217:04 PM(View: 545)
Ta tự mình thắp đuốc Ngọn đuốc của chơn Thiền, Không tư duy biện luận. Không bâng khuâng mong cầu,
Wednesday, February 24, 20214:41 PM(View: 1054)
Xâu chuỗi bồ đề A la hán đạo có 16 hột bồ đề. Còn cái sợi chỉ màu đỏ xuyên suốt con đường đi, mình có thể xem như là cái gì? Chúng ta thử đối chiếu lại với xâu chuỗi bồ đề của Đức Phật, có điểm nào giống và điểm nào khác?
Wednesday, February 24, 20213:54 PM(View: 435)
Thân này luôn chuyển động Tế bào sanh diệt từng giây Có sanh ắt lão bệnh tử Không sao thoát khỏi vòng quay
Sunday, February 21, 20219:45 AM(View: 423)
Lý tưởng Thiền để thoát khỏi trần lao, Trong sáu cõi ta không còn ra vào lục đạo, Là phải dứt nhân luân hồi sinh tử, Vốn được xây trên bốn tiềm năng lậu hoặc
Wednesday, February 17, 20217:03 PM(View: 1496)
... những giai đoạn lần lượt tiến tới giác ngộ tối thượng của Đức Phật Thích Ca mà kinh điển còn ghi lại. Cô đã tạm kết nối lại thành một xâu chuỗi, đặt tên là xâu chuỗi Bồ Đề Có một câu hỏi đặt ra cho mình: Còn sợi chỉ đỏ, xuyên suốt 15 hột bồ đề là cái gì?
Wednesday, February 17, 20211:09 PM(View: 580)
Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc, không quán thọ ... không quán tưởng ... không quán hành ... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỳ kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Monday, February 15, 20214:22 PM(View: 387)
Ở trong cái Bị Sanh Lại tìm cái Bị Sanh Ở trong đời rối ren Lại tìm cái lăng xăng Vậy thì làm sao vui?
Monday, February 15, 20214:12 PM(View: 505)
Trên tánh giác thiền gia, Cái đang là xuất hiện. Ngã kiến biến dạng mất, Như thật tri rõ ràng, Tánh giác thường rõ sáng, Chấm dứt kiếp lang thang.
Wednesday, February 10, 20216:59 PM(View: 998)
Con đường tu của mình chỉ là làm sao giữ được tâm bất động trong thế gian luôn luôn biến động này. Thì mùa xuân mới trọn vẹn là mùa xuân. Thì mùa nào cũng là mùa xuân. Thì mỗi người mới có một đóa hoa tâm cúng dường lên Tam Bảo.
Wednesday, February 10, 20214:58 PM(View: 589)
Đề tài "Năm mới, Làm mới đời sống" đối với quý vị thiền sinh, thực ra chỉ là một đề tài nhắc nhở chúng ta dừng tâm lại, đừng phóng tâm ra ngoài, tức không suy nghĩ lung tung, bởi vì sự suy nghĩ lung tung này khiến cho sóng tâm không lúc nào được tĩnh lặng
Wednesday, February 10, 20214:45 PM(View: 527)
Xưa thiền bí truyền, nay thiền đại chúng. Xưa thiền chuyên tu, nay thiền mọi cảnh. Xưa thiền lìa thế, nay thiền nhập thế.
Wednesday, February 10, 20212:56 PM(View: 449)
Sunday, February 7, 20219:27 AM(View: 481)
Ai lão thông như thật kiến, Hiện đời dứt oan khiên, Cửa Vô tướng tiến gần, Thân tâm đầy sức sống. Bi, Trí đồng thể hiện, Phật tri kiến không xa
Friday, February 5, 202111:30 AM(View: 677)
Đạo Phật là đạo trí tuệ Phật bảo: đến đây để thấy, Để nghe, để hiểu, để hành, Để chính tự mình chứng nghiệm.
Friday, February 5, 202110:16 AM(View: 558)
Não bộ là một cơ chế vật chất nằm trong hộp sọ, gồm có nhiều tỉ tế bào thần kinh (Neuron). Nhưng nó quan trọng là chỗ gá nương của cái TÂM.
Tuesday, February 2, 20219:24 AM(View: 638)
Phật pháp luôn có hai mặt: Tục Đế và Chân Đế. Tục Đế là những gì nói, lý giải, hiểu được, gọi là chân lý qui ước như văn tự, ngôn ngữ, sắc tướng, âm thanh…
Sunday, January 31, 20215:32 PM(View: 505)
Thấy sắc, tâm dính sắc, Nghe tiếng, tâm kẹt tiếng, Thì muôn vạn não phiền, Cứ luân phiên khởi dậy,
Wednesday, January 27, 20215:39 PM(View: 1183)
Thiền sư Bankei (người Nhật) với tâm từ bi và trí tuệ, đã chuyển hóa được tâm của người đệ tử. Như vậy, khi mình chưa chuyển hóa được chính mình, là vì mình chưa đủ trí tuệ, vì thế mình chưa chuyển hóa được người khác, cũng vì mình chưa đủ trí tuệ và từ bi.
Monday, January 25, 20218:22 PM(View: 620)
Ngoài suy nghĩ, ngoài tất cả lời, Thường chiếu diệu khắp nơi. Như mặt trời buổi sáng, Xua tan bóng đêm dài ảm đạm của vô minh.
Saturday, January 23, 20214:39 PM(View: 509)
Đau khởi lên ta biết, Bị cười chê cũng biết. Làm chủ được cảm thọ, Không thọ, không khát ái, ....
Friday, January 22, 20218:41 PM(View: 521)
Kính Bạch Thầy, Con ghi lại mấy dòng nầy để kính tạ ơn Thầy đã nhổ đinh tháo chốt cho con khỏi bị vướng kẹt bao nhiêu năm. Đồng thời để chia sẻ kinh nghiệm cùng các bạn thiền sinh cũng bị kẹt như con, biết tự nhổ đinh tháo chốt mà vượt qua. Con, Không Chiếu
Wednesday, January 20, 20217:24 PM(View: 1250)
Chúng ta cũng nên suy gẫm truyện này, xem như một câu “công án” cho mình. Khi nào mình “nghe” được rõ ràng “vô tình thuyết pháp”, xem như khi đó mình đã “thấy” Đức Phật Thích Ca đang cầm cành hoa giơ lên trước hội chúng, trong đó có mình.
Wednesday, January 20, 20215:52 PM(View: 1017)
TỔNG KẾT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU GIỮA ĐẠI HỌC TÜBINGEN (GERMANY) VÀ HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG (USA) TỪ 2007 ĐẾN 2013 VỀ ĐỀ TÀI “ TƯƠNG QUAN THỰC NGHIỆM GIỮA THIỀN VÀ CÁC ĐỊNH KHU NÃO BỘ
Wednesday, January 20, 202111:06 AM(View: 631)
Nói về Tâm, thế gian thường cụ thể hoá nó bằng những suy tư nghĩ tưởng và những trạng thái vui buồn. Xin tạm phân tích như sau: ...
1,311,835