HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Triệt Như SNHP032: NAM HUỆ NĂNG- BẮC THẦN TÚ

Wednesday, October 27, 20218:21 PM(View: 3999)

 Triệt Như - Suối Nguồn Hạnh Phúc - Bài 32

NAM HUỆ NĂNG- BẮC THẦN TÚ
32 SUOI NGUON HANH PHUC 4 X 6 VN

Có khi người ta nói: Nam Đốn- Bắc Tiệm. Chúng ta xem lại truyện về hai ngài Huệ NăngThần Tú.  Cả hai vị đều là đại đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.

Huệ Năng (638-713) Ngài họ Lô (hay Lư), người xứ Tân Châu, Nam hải. Cha ngài khi xưa làm quan, không biết vì sao bị giáng chức và cả gia đình bị đày về Lãnh nam. Sau đó, cha ngài mất sớm, lúc ngài mới 3 tuổi. Nhà nghèo, ngài không được học hành, mà phải vào rừng đốn củi đem ra chợ bán, đổi lấy gạo về nuôi mẹ qua ngày. Người gầy ốm nên khi vào giả gạo nơi ngài Hoằng Nhẫn, Huệ Năng phải đeo thêm đá trên lưng mới đạp nổi cái chày.

Thần Tú (605- 706) Ngài họ Lý, người Biện Châu, huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam. Dáng Ngài cao lớn, oai nghi. Thuở trẻ đã làu thông kinh sử, Nho giáo, Lão giáo. Đến khoảng năm 50 tuổi nghe tiếng Ngũ Tổ, mới tìm đến thọ giáo, được Ngũ Tổ cho làm Giáo thọ, hướng dẫn tăng chúng mấy trăm người.

Năm 684, Vũ Tắc Thiên chấp chính, 6 năm sau đổi quốc hiệu là Chu, lên ngôi Hoàng đế. Vũ Tắc Thiên sùng kính đạo Phật, mời Đại sư Thần Tú đến Lạc Dương, bái Ngài làm Quốc sư. Năm 701, Thần Tú hơn 90 tuổi vào triều, Tắc Thiên đích thân đến quỳ lễ đón. Đại sư Thần Tú rất là khiêm tốn, tâm lượng quảng đại, nói với Tắc Thiên là Huệ Năng ở phương nam là người được truyền y bát. Tuy nhiên, khi nhận được chiếu chỉ triệu thỉnh về kinh đô, ngài Huệ Năng đã viện cớ tuổi già sức yếu từ chối.  

Đại sư Thần Tú được tôn là Pháp chủ lưỡng kinh (Trường An, Lạc Dương), Quốc sư tam đế (Vũ Tắc Thiên, Đường Trung Tông, Đường Duệ Tông). Sư chủ trương “Tọa thiền tập định”, “Trụ tâm quán tịnh”.(Phải thường xuyên ngồi thiền để tu tập định lại tâm, tâm phải trụ lại để được tĩnh lặng).

Về tiểu sử của ngài Huệ NăngThần Tú, có rất nhiều chi tiết, ở đây, chúng ta không nhắc lại. Chúng ta chỉ thảo luận vấn đề quan trọng là hai đường lối giáo hoá của hai vị thiền sư nổi tiếng, cùng một vị bổn sư, cùng một thời đại. Đó là Đốn giáoTiệm giáo.

Sự khác biệt đầu tiên được thể hiện rõ nét qua bài kệ trình kiến giải với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.

Đây là bài kệ của ngài Thần Tú, đang làm Giáo Thọ đứng đầu tăng chúng trong chùa:

Thân thị Bồ-đề thọ,

Tâm như minh cảnh đài,

Thời thời thường phất thức,

Vật sử nhạ trần ai.

 Dịch:

Thân như cây bồ-đề,

Tâm như đài gương sáng,

Luôn luôn phải lau chùi,

Chớ để dính bụi nhơ.

Thiền phương Bắc được gọi là tiệm giáo, xuất xứ từ bài kệ này của ngài Thần Tú.

Và đây là bài kệ trình kiến giải của ngài Huệ Năng khi ấy còn là cư sĩ, giã gạo trong chùa, chưa được vào tăng chúng để tu học.

Bồ-đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệc phi đài,

Bản lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai?

Dịch:

Bồ-đề vốn không cây,

Gương sáng cũng chẳng đài,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính bụi nhơ?

Thiền phương Nam được xem là Đốn giáo, do ngài Huệ Năng xiển dương, 15 năm sau khi được Ngũ Tổ truyền y bát.

Trên đây là vài nét giới thiệu ngài Huệ Năng và ngài Thần Tú. Trọng tâm của bài viết này là tìm hiểu hai phương thức tu học, cũng là hai phương thức giáo hoá, thường chúng ta đặt tên là:

Đốn giáo- Tiệm giáo

Đốn ngộ- Tiệm ngộ

Đốn tu- Tiệm tu v.v...hay có khi cũng nói là:

Giáo pháp liễu nghĩa- Giáo pháp bất liễu nghĩa

Chân đế bát nhã- Tục đế bát nhã...v.v...

Trước nhất, ta thử tìm hiểu những kinh nghiệm sống và tu tập của ngài Huệ Năng và ngài Thần Tú, từ đó đưa tới hai phương cách giáo hoá sau này.

Sự kiện đầu tiên là ngài Huệ Năng, khoảng 24 tuổi, vẫn còn ngày ngày vào rừng đốn củi, mang ra chợ bán, đổi gạo đem về nuôi mẹ. Là một người con hiếu thảo, an phận nghèo, trong chế độ quân chủ chuyên chế, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua xử kẻ bề tôi chết thì phải chết, nếu không chịu chết thì là người không trung thành), cha mắc tội bị đày vào xứ biên địa “khỉ ho cò gáy”, không được hưởng chút quyền lợi nào, không được đi học. Gia đình ngài giống như sống bên ngoài rìa của xã hội bấy giờ. Có thể chính hoàn cảnh nghèo không được đi học đã giúp ngài Huệ Năng không vướng vào văn tự, lý luận, phân tích chi ly giáo pháp, mà sách sử gọi là “sở tri chướng” cho sự sáng đạo của hành giả thiền.

Nhưng một hôm, nhân gánh củi cho một nhà kia, chợt nghe ai đó tụng đọc câu kinh: “Bất ưng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Không nên khởi tâm dính mắc vào bất cứ hiện tượng thế gian: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm không dính mắc nơi nào mới là tâm kỳ diệu), Huệ Năng chợt tỉnh ngộ, nhận ra một lối thoát cho mình. Sau khi biết đó là kinh Kim Cang, ngài Hoằng Nhẫn đang giảng dạy tại huyện Hoàng Mai, Huệ Năng nhờ được người giúp đỡ lo cho mẹ chu đáo, liền từ giả mẹ tìm đến Hoàng Mai.

Đây là cái nhân và duyên thuận lợi đầu tiên, đưa Huệ Năng trở về Phật pháp. Tuy nhiên mình cũng nhận ra Huệ Năng đã là bậc thượng căn, thông minh, sắc bén. Người đời, nghe hay đọc tụng kinh Kim Cang hoài, có mấy ai phát tâm dũng mãnh như Huệ Năng.

Sử liệu có ghi chuyện ngài Huệ Năng khi mới chào đời, có hai vị Tăng phương xa tới nhà, đặt tên cho ngài là Huệ Năng, rồi ra đi mất. Lại sử cũng có chỗ nói khi ngài mới chào đời, hương thơm toả ra khắp nhà. Điều này có nghĩa là Huệ Năng đã gieo trồng căn lành với Phật pháp từ nhiều đời quá khứ rồi. Cho nên, khi trưởng thành, Huệ Năng có thể cũng đã nhận định về cuộc đời khác với Thần Tú, vì hai hoàn cảnh sống khác nhau.

Huệ Năng mất cha khi mới 3 tuổi. Làm gì những khi rảnh rang, mẹ con lại không thầm thì gợi lại cuộc đời của người đã mất. Huệ Năng biết cha là người có học đạo thánh hiền, được làm quan, nhưng lại bị giáng chức, phải rời xa thành thị, bị đày về tận vùng biên địa, nơi hoang dã. Chúng ta đọc lại sử, đó là thời nhiễu loạn của Trung Hoa, triều đình bê tha, vua không còn quyền hành, mà người thống trịVõ Tắc Thiên, ái phi của vua cha, sau khi vua mất, thái tử lên ngôi lại rước về làm hoàng hậu. Về sau lên ngôi hoàng đế. Con đường để lên ngôi hoàng đế, không biết bao nhiêu người đã chết. Võ Tắc Thiên đã từng bóp chết con gái mới sinh của mình để vu oan cho bà hoàng hậu khi bà tới thăm. Võ Tắc Thiên đã giết chết con trai của mình vì không muốn mất ngôi vua. Vậy trong khoảng cuối thế kỷ VII này, các triều vua Trung Hoa đổ nát, người dân phải cam chịu số phận mỏng manh của mình, biết kêu cứu với ai. Ta có thể hiểu vì sao Huệ Năng không được đi học chữ thánh hiền, không được ra góp mặt với đời, mà lối thoát duy nhất của Huệ Năng chỉ là Phật pháp. Và có thể đó cũng là lý do vì sao khi Võ Tắc Thiên viết chiếu chỉ mời Huệ Năng về kinh đô giáo hoá, Huệ Năng đã từ chối.

Sự kiện tiếp theo chứng tỏ Huệ Năng thông minh, sắc bén, hiểu thâm sâu Phật pháp, mặc dù Huệ Năng chưa từng học hỏi về giáo lý với ai, chưa từng đọc kinh sách vì ngài đâu có được đi học, đó là lời đối đáp với Ngũ Tổ buổi đầu yết kiến Ngũ Tổ. Phần này, xin lướt qua vì đã có nhiều sử liệu rồi, nếu các bạn muốn xem lại, rất dễ tìm. Về việc này mình có thể nói Huệ Năng đã nhiều lần “như lý tư duy”, còn vận dụng sự hiểu biết, lý luận, để suy gẫm về mình, về cuộc đời, và biết rằng hễ là con người bình thường, ai cũng có tánh giác ngộ như nhau. Huệ Năng cũng đã thông hiểu tới bản thể rốt ráotánh Không của vạn pháp. Thêm một sự kiện chứng tỏ Huệ Năng đã gieo nhiều căn lành trong quá khứ rồi, thông hiểu giáo lý rốt ráo khi chưa thưa hỏi với một vị thầy nào. Đó là bài kệ trình kiến giải của ngài, bài thi kệ nổi tiếng làm nên sự nghiệp “Thiền Đốn ngộ” cho lịch sử Thiền tông sau này.

Trong khi ngài Thần Tú, cuộc đời êm đềm may mắn hơn. Trong sử liệu không nói rõ gia cảnh của ngài, chúng ta chỉ biết ngài thuở còn trẻ, là một nho sinh, được học sách thánh hiền: Khổng tử, Lão tử. Vì thế đạo lý sống trong đời đúng theo nhân nghĩa, thể hiện qua lòng quí mến của Ngũ Tổ, cho ngài làm giáo thọ, đứng đầu tăng chúng trong chùa; toàn thể tăng chúng trong chùa cũng phục tùng ngài, nhất trí thỉnh cầu ngài đại diện mà trình thi kệ lên Ngũ Tổ. Tuy nhiênhọc hỏi nhiều kinh sách thánh hiền, lại làm giáo thọ sớm quá khi chưa sáng đạo, nên có thể cũng là một duyên khiến ngài Thần Tú chưa vào đươc chỗ “Atakkāvacara” /ngoài lý luận, ngoài lời/ không thể nghĩ bàn.

Đức hạnh của ngài Thần Tú cũng nổi bật ở điểm “tự biết mình”, khi nghe Ngũ Tổ bảo trình kiến giải để truyền Tổ vị kế thừa. Ngài đã nhiều đêm lo lắng, tâm bất an, tâm không muốn trình kệ kiến giảibiết mình chưa thông giáo lý, nhưng hoàn cảnh lại buộc phải thay thế tăng chúng mà làm kệ. Đắn đo mãi, cuối cùng phải làm kệ. Làm xong rồi, mà vẫn chưa dám trực tiếp gặp thầy để trình. Mỗi lần quyết định gặp thầy lại toát mồ hôi. Đến đổi cuối cùng giữa đêm khuya, lén ra viết kệ lên tường, không ai biết.

Sáng ra, tăng chúng xôn xao vì bài kệ, Ngũ Tổ đọc xong, thầm biết ai làm bài kệ này, ngài thuận chúng mà đối xử tế nhị với Thần Tú, ngài dạy đại chúng hãy tụng đọc và thực hành theo. Rồi chờ đêm đến, ngài gọi Thần Tú vào phòng, hỏi riêng: “Có phải ông làm bài kệ đó không?”. Ngài Thần Tú chân thật trình thầy: “Chính con. Nhưng không mong cầu tổ vị, chỉ mong trình pháp để thầy chỉ giáo thêm”. Ngũ tổ mới cho biết là chưa thấy tánh, hảy trở ra, suy gẫm lại và trình bài kệ khác. Ngài Thần Tú lại thêm một phen không ăn không ngủ. Lúc đó lại xuất hiện bài thi kệ của ngài Huệ Năng trên tường. Tăng chúng thêm lao xao, hai bài kệ đối nhau chan chát. Ngũ Tổ đọc bài kệ thứ hai, biết ngay là ai làm, ngài ứng xử sắc bén, xóa ngay bài kệ thứ hai, miệng nói: “Chưa thấy tánh”. Tăng chúng nghe theo, trở lại tụng đọc bài kệ thứ nhất.

Nhân lúc vắng người, Ngũ tổ chống gậy đi lần ra nhà sau, thấy Huệ Năng, gầy ốm, không đạp nỗi cái chày xuống để giả gạo, lưng phải mang thêm khối đá. Ngài chạnh lòng : “Người cầu pháp phải cực khổ tới như thế! Gạo trắng chưa?” Huệ Năng trả lời: “Gạo trắng rồi, còn đợi giần sàng”. Ngũ Tổ lấy gậy gõ 3 tiếng cộc cộc cộc trên cối đá rồi im lặng bỏ đi. Hai thầy trò, người hỏi, người đáp, hiểu nhau. Có người khác quanh quẩn gần đó, cũng không tài nào hiểu.

Canh ba đêm đó, Huệ Năng thầm lặng tới phòng thầy. Ngũ tổ đã chờ sẵn, im lặng khép cửa lại cài then, lấy tấm y rộng che kỹ lại không ai có thể nhìn lén vào. Ngũ tổ nhỏ giọng bắt đầu giải thích kinh Kim Cang. Huệ Năng vẫn yên lặng quỳ dưới chân thầy, chí tâm, lắng nghe, không một niệm, tâm đã vào định, vắng lặng tịch diệt, sáng ngời. Khi nghe âm thanh “bất ưng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, tia chớp lóe sáng:

Nào ngờ tánh mình vốn không sanh diệt,

Nào ngờ tánh mình vốn xưa nay thanh tịnh,

Nào ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ,

Nào ngờ tánh mình vốn không dao động,

Nào ngờ tánh mình vốn sinh ra muôn Pháp.

 Ngũ Tổ nhìn thấy thần sắc ngài Huệ Năng, thầm biết Huệ Năng đã sáng đạo, ban y bát kế thừa ngay và dặn dò Huệ Năng ra đi ẩn mặt một thời gian, chưa được giáo hoá ngay.

Chúng ta nhắc lại những nhân duyên sáng đạo, hay triệt ngộ của ngài Huệ Năng để từ đó mình hiểu phương thức giáo hóa “đốn ngộ”, là ngài Huệ Năng đã ứng dụng chủ trương của tổ Bồ Đề Đạt Ma:

“Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật”.

 Trong Pháp Bảo Đàn kinh, Thiền sư Pháp Hải, một vị đệ tử của Ngài Huệ Năng, đã ghi chép lại lời giảng của ngài Huệ Năng, đường lối Đốn giáo của ngài Huệ Năng là:

Vô - Niệm làm Tông, Vô - Tướng làm Thể, và Vô - Trụ làm Gốc”.

Thiệt ra, vô tướng, vô trụvô niệm cũng là một, liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời được. Đường lối tu tập này là rút ra từ cốt lõi của kinh Kim Cang. Điều này dễ hiểu, chính vì Huệ Năng sáng đạo qua kinh Kim Cang.

Khi mình đang ở trong tâm vô niệm, thì không trụ vào đâu hết, không dính mắc vật gì, tức là không dính mắc vào bất kỳ tướng nào của thế gian. Phương pháp này đi trực tiếp vào chân đế bát nhã, bản thể của tâm là trong sạch, là tĩnh lặng, là thuần nhất; bản thể của vạn pháp cũng là tĩnh lặng (không tên, không lời, không phẩm chất, không thuộc tính), là trong sạch, là bất động. Trải nghiệm trạng thái tâm vô niệm thì trải nghiệm vạn pháp bình đẳng, như như bất động, cũng thông suốt bản thể trống không, như huyễn của vạn pháp.

Ngài dạy Định-Huệ (thiền-định, trí-tuệ) vốn NHẤT THỂ chẳng phải hai, Định là Thể của Huệ, Huệ là Dụng của Định, ngay trong lúc Định có Huệ, ngay trong lúc Huệ có Định. Ngài ví dụ đèn và ánh sáng, đèn là Thể của sáng, sáng là Dụng của đèn, tên tuy có hai, Thể vốn chỉ một, Định-Huệ cũng vậy.

Dưới Lục Tổ có 33 môn đệ đắc pháp, trong đó nổi bật nhất là 5 vị làm cho Thiền Tông đời sau được hưng thịnh và ảnh hưởng lớn trong Phật Giáo Trung Quốc:

1-    Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng, từ pháp mạch này sinh ra Tông Lâm Tế, Quy Ngưỡng.

2-    Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư, từ pháp mạch này sinh ra Tông Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn.

3-    Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, tác giả của Chứng Đạo Ca và quyển Thiền Tông Vĩnh Gia Tập nổi tiếng

4-    Thiền sư Nam Dương Tuệ Trung, từng làm Quốc Sư.

5-    Thiền sư Hà Trạch Thần Hội, người định tông chỉ, đưa Thiền Nam Tông trở thành chính thống.

Đặc biệt, từ hai vị Nam Nhạc Hoài NhượngThanh Nguyên Hành Tư, Thiền Tông sản sinh vô số các Thiền sư danh tiếng truyền bá tư tưởng Đốn Ngộ, Thiền Tông trở thành Pháp môn phổ biến, thịnh hành nhất vào các thời Đường, Tống. Được truyền qua nhiều nước như Việt nam, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đến thời Minh, Thanh, Thiền bắt đầu suy yếu và nhường chổ cho Tịnh Độ Tông. Ngày nay, tuy Thiền Tông đã phần nhiều phai nhạt và không còn ảnh hưởng mấy nữa, nhưng nó vẫn là một đề tài cuốn hút đối với các tăng, ni và cư sĩ, phật tử.

Chúng ta trở lại ngài Thần Tú.

Sử sách không chú trọng nhiều tới ngài Thần Tú, có lẽ vì ngài không phải là kế vị tổ chính thức. Tuy nhiên đương thời, ngài là một danh tăng, là vị quốc sư trong 3 triều đại hoàng đế Trung Hoa: Võ Tắc Thiên, Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông. Khi ngài được Võ Tắc Thiên thỉnh vào kinh đô, ngài đã hơn 90 tuổi. Sử có chép, ngài Thần Tú đã tiến dẫn ngài Huệ Năng là người được kế thừa chính thức, nên triệu thỉnh về kinh đô giáo hoá. Nhưng ngài Huệ Năng đã từ chối lời thỉnh mời của vua. Sự kiện này cũng chứng tỏ đức hạnh của ngài Thần Tú, đã không đố kỵ mà còn cảm phục đức độtrí tuệ của ngài Huệ Năng.

Thêm một sự kiện nữa nói lên tâm cầu pháp của ngài Thần Tú:

Hòa-Thượng Thần-Tú là người biết mình biết người, nên thường nói với đại chúng: “Lục-Tổ đắc Vô Sư Trí (tự có trí tuệ mà không cần thầy giảng dạy), triệt ngộ Pháp Tối Thượng-Thừa, ta chẳng bằng được; vả lại được Thầy ta là Ngũ-Tổ đích thân truyền Áo-Pháp, đâu phải khi không mà được; ta tiếc chẳng đi xa được để thân cận, uổng chịu Quốc-ân (ơn Vua), các vị chớ nên kẹt ở nơi đây mà nên đi đến Tào-Khê tham học”.

Một hôm Hòa-Thượng Thần-Tú bảo môn đồ thân tín là Chí-Thành: “Thầy thông minh có trí, hãy thay ta đến Tào-Khê nghe Pháp, tận tâm ghi nhớ các điều thấy nghe, rồi về lặp lại cho ta biết”.

Vâng lời thầy, Chí-Thành bèn đến Tào-Khê, theo chúng tham học mà chẳng nói từ nơi nào đến. Một hôm Lục-Tổ nói với đại chúng:

- Hiện nay có kẻ trộm Pháp đang ở trong hội này.

Bấy giờ thầy tăng Chí-Thành bước ra lễ bái và trình nguyên do. Lục-Tổ nói:

- Người của Chùa Ngọc-Tuyền đến mà không nói trước tức là mật thám vậy.

- Thưa Hòa-Thượng, chẳng phải vậy.

- Sao chẳng phải vậy?

- Lúc chưa nói ra là như thế, nói ra rồi chẳng phải vậy.

Đại-Sư hỏi:

- Thầy ông dạy chúng như thế nào?

- Thầy tôi thường dạy đại chúng “trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi chẳng nằm”.

Ngài nói:

- Trụ tâm quán tịnh là bệnh chứ chẳng phải thiền, ngồi mãi là trói thân, với đạo lý có ích chi đâu, hãy nghe ta nói kệ:

Lúc sống ngồi chẳng nằm,

Chết rồi nằm chẳng ngồi,

Thật đống xương thịt thối,

Đâu lập được công phu.

Thầy Chí-Thành làm lễ mà thưa:

- Kẻ đệ-tử này theo học với Tú Hòa-Thượng, học đạo đã chín năm mà chẳng được sáng tỏ, nay nghe Hòa-Thượng nói mới một lần liền tỏ sáng bản tâm; nay sự sống chết là việc lớn, con xin Hòa-Thượng mở lòng từ-bi chỉ dạy.

Ngài Huệ-Năng nói:

- Ta nghe thầy ông dạy người học Pháp Giới-Định-Huệ, chẳng hay thầy ông nói cái hạnh tướng của Giới-Định-Huệ như thế nào?

Thầy Chí-Thành thưa:

- Thần-Tú Hòa-Thượng nói: “Những điều ác chớ làm là Giới, ý căn tự trong sạch là Định, các điều lành vâng làm gọi là Huệ”, còn Hòa-Thượng lấy Pháp gì dạy người?

- Nếu nói rằng có Pháp để dạy người đó là dối ông, ta chỉ tùy căn cơ để mở trói, phương tiện ấy giả gọi là “tam-muội”; cứ như chỗ thầy ông nói về Giới-Định-Huệ thật không nghĩ bàn được, chỗ ta nói về Giới-Định-Huệ lại khác.

Thầy Chí-Thành thắc mắc hỏi:

- Giới-Định-Huệ chỉ có một sao lại có khác?

- Giới-Định-Huệ của thầy ông độ người Đại-thừa, Giới-Định-Huệ của ta tiếp người Tối Thượng-thừa, chỗ ngộ giải chẳng đồng, sự thấy có nhanh chậm. Ta thuyết pháp chẳng lìa tự tánh, lìa tánh mà thuyết pháp khiến cho tự tánh thường mê, ấy là tướng thuyết. Nên biết tất cả các pháp đều từ tự tánh khởi dụng, ấy là Chân-pháp của Giới-Định-Huệ; hãy nghe ta nói kệ:

Tâm địa chẳng quấy, tánh mình Giới,

Tâm địa chẳng si, tánh mình Huệ,

Tâm địa chẳng loạn, tánh mình Định,

Không thêm không bớt, tánh mình Kim-cương,

Không tới không lui, vốn là tam-muội.

Chí-Thành nghe rồi cảm tạ Ngài và trình kệ:

Năm uẩn thân này huyễn,

Huyễn đâu có cứu cánh,

Trở về tánh Chân-như,

Chấp pháp vẫn chẳng tịnh.

Ngài cho là phải, và bảo:

- Nếu ngộ được tự-tánh, chẳng lập Bồ-đề, cũng chẳng lập giải-thoát tri-kiến, chẳng có một pháp để đắc, như thế mới được kiến lập vạn pháp. Người kiến-tánh lập cũng được mà chẳng lập cũng được, đi lại tự do, chẳng trệ (trì trệ) chẳng ngại (trở ngại), cần dùng liền làm, cần nói liền đáp, khắp hiện hóa-thân, chẳng lìa tự tánh, tức được thần-thông tự tại.

Thầy Chí-Thành sau khi nghe Ngài dạy, lễ bái và xin nguyện được làm thị giả theo hầu Ngài sớm chiều từ đấy.

Từ khi có hai Tông phái khác nhau, hai vị Tông-chủ tuy không phân biệt chê bai, nhưng đồ chúng lại sinh lòng cạnh tranh ưa ghét; nhất là môn đồ Bắc Tông, họ đã tự lập Hòa-Thượng Thần-Tú làm Tổ thứ sáu, nhưng lại sợ người đời biết được sự truyền Áo-Bát của Ngũ-Tổ, nên sai Hành-Xương đi ám sát Lục-Tổ Huệ-Năng.

Đọc truyện về ngài Huệ Năng và ngài Thần Tú, chắc mình cũng nhận ra rằng hai ngài là đồng môn, tâm tánh nhu hòa, không cạnh tranh, không đố kỵ, mà cùng tương kính tương trợ. Tuy nhiên nhóm đệ tử bên ngài Thần Tú còn tâm ghen ghét, tôn sùng thầy mình, sinh ra ý ác, muốn giành ngôi vị kế thừa làm Tổ thứ 6 cho ngài Thần Tú nên nhiều phen muốn hãm hại ngài Huệ Năng. Lần thứ nhất là sự kiện mấy trăm người dẫn đầu là ông thượng tọa Huệ Minh, đuổi theo ngài Huệ Năng, nhưng vì không thể nhấc lên được y bát, mặc dù y bát để trên tảng đá giữa rừng, ngài Huệ Năng thoát hiểm, và cảm hoá được Huệ Minh.

Nếu để ý, chúng ta biết ngài Huệ Năng sau khi đắc pháp, là có năng lực phi thường, hiển lộ qua vài sự kiện rải rác:

  • Ngài Huệ Năng đặt Y bát trên tảng đá, và nói:

-       Y- Bát này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao?

 Quả thật, Huệ Minh không nhấc lên được.

  • Khi Chí Thành tới lén học pháp, không nói cho ai biết, ngài Huệ Năng vẫn biết.
  • Khi ngài Huệ Năng đến xin đất của Trần Á Tiên để mở rộng chùa Bảo Lâm, khoảng đất rộng bằng tấm tọa cụ để ngồi thiền. Ngài Huệ Năng cho biết tấm tọa cụ rộng lắm. Trần Á Tiên đồng ý. Bấy giờ ngài Huệ Năng trải tấm tọa cụ ra, biến thành rộng lớn cả vùng Tào Khê.
  • Về sau, nhóm người phương Bắc muốn tôn ngài Thần Tú là Tổ thứ 6 nên âm mưu sai Hành Xương giết hại ngài Huệ Năng. Ngài Huệ Năng đã biết trước. Hành Xương chém ngài Huệ Năng trong khi đang nhập định như chém vào không gian. Ngài Huệ Năng trao vàng cho Hành Xương và nói chỉ thiếu nợ vàng chứ không thiếu nợ mạng. Hành Xương được cảm hóa, thời gian lâu sau trở lại làm đệ tử ngài Huệ Năng.

Trở lại sự khác biệt về giải thích con đường tu quan trọng là : Giới- Định- Huệ. Ngài Thần Tú giảng theo kinh sách, trong ý phân chia ra 3 môn khác nhau. Ngài Huệ Năng thì giảng theo nghĩa rốt ráo, cả 3 Giới- Định- Huệ là đồng nhất trong chân tâm.

Chân tâm thì không làm quấy, là Giới tròn đủ.

Chân tâm không loạn động, là Định vững chắc.

Chân tâm không si mê, là Huệ chiếu sáng.

Vậy chỉ cần an trụ trong chân tâm, hay tự tánh, thì tròn đủ Giới- Định- Huệ.

Qua một số ít sự kiện trên đây, chúng ta cũng nhận ra, ngài Huệ Năng sáng đạo, do nhiều nhân duyên đặc biệt, và giáo hóa thích hợp cho người căn cơ sắc bén; trong khi ngài Thần Tú tu họcgiáo hóa theo đúng kinh sách, học hỏi, ứng dụng cho mình và hướng dẫn người khác thích hợp với đa số quần chúng căn cơ trung bình, còn sống trong đời, còn tham sân si, còn cả gan rượt đuổi theo để dành lại y bát, còn âm mưu thuê người giết hại Huệ Năng vv...

Kết quả của hai dòng Thiền này là:

-       Dòng Thiền “Tiệm giáo” ở phương Bắc của ngài Thần Tú, rạng rỡ, náo nhiệt một thời gian ngắn, huy hoàng, được vua chúa, triều đình, dân chúng trọng vọng, rồi sau vài đời thì mai một.

-       Dòng Thiền “Đốn Giáo” ở phương Nam của ngài Huệ Năng, khiêm nhường, âm thầm lưu truyền qua nhiều đời thiền sư sáng đạo, về sau có phương thức Công Án, rồi Thoại Đầu, làm nên Tổ Sư Thiền của Trung Hoa, cuối cùng phai mờ đi khi Tịnh độ tông xuất hiện thích hợp cho đa số căn cơ trung bình.

 

Nhận định chung những sự kiện lịch sử, chúng ta thấy hễ có xuất hiện thì có suy tàn, có thăng thì có trầm, như những lượn sóng lên xuống trên mặt biển. Biển đời cũng vậy. Tuy nhiên sóng thì có lên có xuống, chứ biển thì vẫn là biển dù lên hay xuống cũng là biển. Tinh hoa của Pháp vẫn thường hiện hữu trên thế gian, không bao giờ biến mất. Tuy vậy, không có Tăng bảo thì không ai giải thíchphổ biến ra cho đời thấy.

Các tông phái, các vị thiền sư, các phương tiện giáo hoá... là pháp hữu vi, có sanh có diệt. Còn chân lý thì vô vi, thường hằng, không sinh diệt.

Hôm nay nhân cảm niệm công đức của người xưa, mạo muội đem cái tâm buồn vui của mình mà diễn lại cảnh xưa, nếu có sai sót, xin các bậc Thiền Đức tiền bối tha thứ.

 

Thiền viện, ngày 27- 10- 2021

TN

Line 2

 Triệt Như - Suối Nguồn Hạnh Phúc - Bài 32

NAM HUỆ NĂNG- BẮC THẦN TÚ


audio-icon_thumbnail
(CLICK vào icon tam giác để nghe - CLICK vào icon 3 dấu chấm để download)
Reader's Comment
Friday, October 29, 20219:18 PM
Guest
Hôm nay ngày 29 tháng 10 năm 2021.
Tâm sự cùng Ni Sư.
Trước đây khi khó khăn đến tập kiên nhẫn. Nay khó khăn đến làm với Tâm rống rỗng ( không suy nghĩ) mọi việc trở nên nhẹ nhàn hơn.
Khi đã chấp nhận chân lý (Pháp) Phật thì Pháp Phật hiển hiện ngay trước mắt.
Khi tâm trạng thái rống rỗng thì nghe như thật, thấy như thật, xúc chạm như thật, nói theo cách khác
Tánh nghe,Tánh thấy, Tánh xúc chạm, xuất hiện, Tánh nhận thức trống rỗng.
Con đang thực tập tâm trống rỗng trong mọi hoàn cảnh.
Con
Như Quỳnh
Friday, October 29, 20214:06 PM
Guest
Bất lập văn tự,
Bốn chữ này là văn tự.
Trực chỉ nhân tâm,
Có chỗ để chỉ ra chăng ?
Nhân nơi bài kệ ngài Thần Tú.
Quả sinh bài kệ ngài Huệ Năng.
Bắc Nam nương nhau mà có.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, May 22, 20249:58 AM(View: 282)
LỢI ÍCH THIẾT THỰC về KIẾN THỨC THỜI ĐẠI ĐẠI CƯƠNG CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG VÀ NHỮNG SỰ TƯƠNG TÁC CỦA CÁC TUYẾN NỘI TIẾT BÊN TRONG CƠ THỂ CON NGƯỜI
Monday, May 20, 202410:22 AM(View: 260)
La retraite de Sunyata Toulouse à Moissac, dans le sud-ouest de la France, est terminée et nous sommes retournés à nos vies quotidiennes. En revoyant les images de ces jours de paix, de sérénité et de bonheur, en compagnie d'amis méditants d'ici et d'ailleurs, mon cœur ne peut s'empêcher d'évoquer quelques attachements et souvenirs.
Monday, May 20, 202410:11 AM(View: 168)
Wenn der Geist ein Objekt wahrnimmt, nimmt er „was gerade ist“ wahr. Wenn er aber in sich kehrt, nimmt er „die Soheit „(Tathatā/ the Suchness) wahr. Hier endet alles, es gibt keine Worte, keine Schrift, keine Namen, keine Außenwelt, kein Denken, keine Diskriminierung, keine Liebe, keinen Hass mehr. Alles ist gleichwertig. Haben die Partriarchen Recht, dass „die Erleuchtung bereits im Augenkontakt liegt“?
Monday, May 13, 20245:16 PM(View: 281)
Thiền Chỉ, tiếng Pali là “Samatha”. Nó có một từ nữa mang nghĩa tương đồng gọi là “Samadhi”, tức là Định. “Chỉ” là dừng lại. “Thiền Chỉ” hay “Thiền Định” là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đề mục, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, tạo sự an vui (sukkha) hỷ lạc cho hành giả.
Thursday, May 9, 20244:00 PM(View: 635)
Chiều nay, ngắm nhìn khoảng sân rộng trước tổ đình sạch bót, một màu đen phì nhiêu, đất xốp, sẵn sàng chờ đón được gieo trồng, mình cảm thấy vui. Các bạn hiền ơi, đất tâm nếu trống không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu!
Wednesday, May 8, 20247:45 AM(View: 250)
Also: „Alle Dharmas kehren zu einem zurück, wo ist dieses Eine?“ Es kann sein, dass alle Dharmas zu dem Geist zurückgeht. Nun verstehen wir vielleicht, warum die Patriarchen damals gegangen sind, ohne jegliche Spur hinterlassen zu haben, als sie gegangen sind. Das Prajnaparamita-Sutra hat jedoch unendlich über die Leere, Illusion und Soheit berichtet.
Friday, May 3, 20246:55 PM(View: 341)
It is normal, natural, and reasonable that mundane phenomena emerge, change then terminate. If we could grasp that comprehension, when something appears or disappears, we are neither cheerful nor sorrowful. Then, our mind is serene and peaceful. And we realize that everywhere is our original adobe, every phenomenon, fact, event, situation or being, carries the truths of transience, the principles of cause-responded conditions, non-selfness, and the trait of bareness… The Dharma sounds from our Lord have been roaring and echoing in the infinite universe. As a result, the planet where we are now is the Buddha’s very realm, my dearest friends.
Thursday, May 2, 20243:30 PM(View: 588)
Phải thông hiểu tới những chân lý rốt ráo: bản chất của thế gian là trống không, là như huyễn, do nhân duyên hội họp mà sinh ra, rồi sẽ thay đổi, và sẽ mất đi. Mình sẽ bớt dính mắc với những cảnh thăng trầm trong cuộc đời. Đây là trí tuệ xuất thế gian, giúp mình sống bình an trong đời.
Wednesday, May 1, 20246:56 AM(View: 465)
Der Wagen „mit einem Gang“ ist die wortlose Achtsamkeit (Sati), die uns vom Anfang bis zum Ende des Kultivierungsweges begleitet. In Wirklichkeit gibt es aber keinen Weg, der uns zur Erleuchtung bringt. Denn dieses wortlose Bewusstsein gehört uns von der Geburt an. Es war und ist rein, ruhig, klar und objektiv. Liebe Freunde, hole dieses wortlose Bewusstsein von Innen heraus. Suche es nirgendwo draußen.
Friday, April 26, 202411:42 AM(View: 624)
Khi nó thấy cảnh, thì nó thấy “cái đang là”. Khi nó an trú trong chính nó, thì nó thấy “cái như vậy” (Tathatā/ the Suchness). Bây giờ, mọi sự đều chấm dứt, không có lời nói, không có văn tự, không có tên gọi, thế gian cũng không còn. Không suy nghĩ, không phân biệt, không thương ghét, tất cả tan biến, bình đẳng. Có phải cổ nhân đã nói đúng “chạm mắt là bồ đề”?
Sunday, April 21, 20242:20 PM(View: 1331)
Vậy thì “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” có thể là muôn pháp đều về tâm, còn nếu thắc mắc: tâm về chỗ nào? Thì ăn gậy là phải rồi. Bây giờ mới hiểu tại sao chư Thiền Đức ngày xưa ra đi không cần lưu lại dấu vết mà hê thống kinh Bát nhã ba la mật lại viết tràng giang đại hải về Không, Huyễn và Chân Như. Có phải vì chỗ đó ngoài ngôn ngữ, còn nếu dùng ngôn ngữ thì nói hoài cũng không xong?
Saturday, April 20, 20246:38 AM(View: 543)
Also durch die Sinnesorgane nehmen wir also, „was gerade ist“, eine reale Sache wahr, das heißt, wir nehmen es wie eine reale Sache, obwohl es nicht echt ist. Ebenso ist ihre Stabilität, ihre Dauerhaftigkeit eine „Illusion“... Das Reale besteht darin, Phänomene durch die Sinnesorgane wahrzunehmen und die Illusion besteht darin, die Essenz eines Phänomens durch eine Weisheit zu verstehen.
Wednesday, April 17, 20242:27 PM(View: 667)
Tu tập theo đạo Phật không phải để sở hữu được điều gì, mà thực ra là để buông xả không bám víu với bất kỳ những gì ở trên đời... mà chỉ nhận biết rõ ràng pháp đến rồi đi, đó là điều tự nhiên của vạn pháp. Và sự đến đi đó, là bài học “sinh diệt, vô thường, vô ngã” giúp cho chúng ta không bị dày vò phiền não khi nghịch cảnh đến, hoặc quá đắm chìm mê say hưởng khoái lạc, khi duyên thuận lợi đến với mình, mà phải sống trong trung đạo vừa phải.
Tuesday, April 16, 202411:33 AM(View: 655)
Therefore, with our senses, we feel the “what-is.” It is the “As-Is Truth,” “Yathābhūta,” which is akin to the Truth, but it is not truly stable and permanent. It is also the “As-Is Delusion,” akin to a dream... The “As-Is Truth,” is the phenomena perceived by human senses and the latter, the “As-Is Delusion,” the Nature recognized by the Prajña Wisdom.
Sunday, April 14, 20245:07 PM(View: 1366)
Cảnh sanh khởi, biến đổi rồi hoại diệt của thế gian là tự nhiên, là bình thường, là hợp tình hợp lý. Nếu hiểu thật sự điều này thì khi cái gì đó sanh ra hay diệt mất, ta không vui cũng không buồn. Bây giờ tâm bình an, thanh thản, bây giờ mới thấy nơi nào cũng là ngôi nhà xưa của mình, cảnh nào cũng hiển lộ những chân lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, bản thể trống không… Pháp âm của Phật vang rền khắp hư không, như vậy cõi này đang là cõi Phật đó, bạn hiền ơi.
Saturday, April 6, 202410:03 AM(View: 440)
Nur einfach die Augen aufmachen und das Objekt wahrnehmen, wie es ist, mit verbalem oder nonverbalem Bewusstsein, der Geist ist rein, ruhig und objektiv. Das ist der Naturgeist. Gebote, Kontemplation, Samatha, Samadhi und Weisheit sind vollständig in ihm vorhanden.
Saturday, April 6, 20248:52 AM(View: 1178)
... chiếc “xe một số” chính là cái Biết, nó đưa ta từ bước đầu tới bước cuối con đường. Thực ra, có con đường nào đâu, vì cái biết là của mình, từ đầu nó vẫn trong sạch, tĩnh lặng, khách quan và chiếu sáng. Bạn hiền ơi, cứ lấy viên ngọc đó ra mà xài, hồn nhiên, đừng lăng xăng tạo tác gì thêm nữa.
Friday, April 5, 20246:46 PM(View: 462)
Bài Luận giảng này cho chúng ta biết rằng: điểm quan trọng bậc nhất của Thiền chỉ là làm chủ tâm ngôn. Không làm chủ được tâm ngôn, dù chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, đường Thiền của ta sẽ đến nơi bế tắc.
Thursday, April 4, 20241:07 PM(View: 686)
In Spring 1929, we cheered our Master’s coming into life. In Spring 1982, we celebrated the glory of our Master’s Recognition of the Path. In Winter 2019, he left us... But with those, this morning, under warm sunlight, while relishing the spring flowers, how come it seems someone’s eyes are full in tear.
Friday, March 29, 20247:58 PM(View: 899)
Vậy qua giác quan, ta thấy “cái đang là”, đó là thấy Như Thực, giống như thiệt, chứ không phải thiệt có bền vững, thường hằng, mà đó cũng là “cái Như Huyễn”, như mộng mà thôi. ...cái Như Thực là thấy hiện tượng qua giác quan, còn cái Như Huyễn là thấy bản thể qua trí tuệ bát nhã.
Friday, March 29, 20247:35 AM(View: 619)
5 LÝ DO chúng tôi chọn chủ đề: LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
Wednesday, March 27, 20246:45 AM(View: 561)
Heute, ein Frühlingsmorgen, blauer Himmel, weiße Wolken, warme Sonne und volle Kirschblüten vor dem Hof ​​des Sunyata Zentrums, möchte ich euch einen Meditations-Laib: Gebote, Samadhi und Weisheit anbieten, der aus dem reinen Wissen eines Naturgeistes gemacht wurde.
Monday, March 25, 20249:43 AM(View: 636)
La nature du monde est vide, est vacuité. Ce n'est juste qu'une illusion. Cette sagesse nous donne la capacité de séparer notre mental de tout attachement au monde. Ce n’est qu’alors que l’on peut demeurer dans la conscience "Ainsi". Lorsque nous possédons la sagesse et la perspicacité pour reconnaître la nature du monde, alors il n’y a plus de chemin, plus besoin de dharma, plus de portes à ouvrir. Nous vivons vraiment dans notre maison spirituelle qui existe depuis toujours en nous.
Sunday, March 24, 20245:02 PM(View: 833)
Mùa xuân năm 1929, mừng Thầy đến, mùa xuân năm 1982, mừng Thầy thấy rõ con đường, mùa đông năm 2019, Thầy đi.... ...Biết vậy, mà sao sáng nay, trong nắng ấm, ngắm hoa xuân, lại dường như có ai rơi nước mắt.
Sunday, March 24, 20244:44 PM(View: 757)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: CON ĐƯỜNG GIỚI QUÁN ĐỊNH TUỆ ngày 16 tháng 3 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Sunday, March 24, 202410:27 AM(View: 594)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Luận giảng số 1 GIỚI THIỆU CÁCH THỨC TẠO LUẬN
Sunday, March 17, 20243:11 PM(View: 680)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Lời Tựa
Sunday, March 17, 20242:16 PM(View: 893)
Chỉ là đơn thuần, mở mắt ra nhìn ngắm, cảnh thế nào nhận biết y như vậy, diễn nói hay thầm lặng, tâm đều trong sạch, tĩnh lặng, khách quan. Đó là chân tâm, Giới, Quán, Chỉ, Định, Tuệ đầy đủ
Wednesday, March 13, 20249:44 AM(View: 670)
Unzählige Jahre habe ich törichterweise nach einem „Märchenland im Jenseits des Nebels“ gesucht. Wie oft bin ich dem Nebel begegnet und wie oft habe ich davon geträumt, ein Märchenland zu finden. Am Ende meines Lebens wurde es mir klar, dass das wahre Märchenland nirgendwo draußen ist, sondern es ist in mir.
Wednesday, March 13, 20249:16 AM(View: 669)
Les quatre niveaux du jhana (état mental), à travers lesquels le Bouddha a réalisé la Triple Connaissance, sont également connus comme “les quatre niveaux du Samadhi”. C’est ainsi que nous comprenons que le Samadhi joue un rôle important dans le Zen bouddhiste. Il est le passage obligé pour l'exploration du vaste firmament de la Sagesse transcendante.
Sunday, March 10, 20244:31 PM(View: 1053)
Các bạn hiền ơi, sáng nay, một buổi sáng mùa xuân, nắng ấm, hoa mai đang nở rộ trước sân Tổ đình, trời xanh và mây trắng. xin dâng tặng cho bạn ổ bánh Thiền Giới Định Tuệ, làm bằng cái Biết trong sáng của chân tâm.
Wednesday, March 6, 202410:36 AM(View: 929)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: VẤN ĐỀ SINH TỬ ngày 17 tháng 2 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, March 6, 202410:20 AM(View: 625)
Nghĩa chữ “tu” không chỉ là sửa đổi hành động từ xấu sang tốt, mà chữ tu còn mang ý nghĩa là “thực tập” hay “hành trì” một pháp môn nào đó.
Tuesday, March 5, 20242:20 PM(View: 990)
Research works from Dr. Michael Erb on the mapping of the brain of Master Reverend Thích Thông Triệt Những đo đạc sau cùng của Thiền sư Thích Thông Triệt đã được thực hiện vào ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2013. Tôi tường trình ở đây một số kết quả từ những thực nghiệm này kết hợp với kỹ thuật chụp ảnh chức năng cộng hưởng từ (f-MRI) và điện não đồ (EEG, 256 channels).
Wednesday, February 28, 20244:27 PM(View: 842)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: GẶP GỠ ĐẦU NĂM mùng 3 TẾT Giáp Thìn 2024 tại TỔ ĐÌNH TÁNH KHÔNG
Tuesday, February 27, 20249:03 AM(View: 718)
La Sagesse, ici je veux dire le Vipassanā, la Vue profonde. Dans les limites de cet article, je passerai en revue le Satipaṭṭhāna sutta, Le récit de l’attention vigilante, extrait de la corbeille Nikāya. Bien que les gens disent toujours "Contemplation des Quatre Fondements de l’attention" et que, dans le sutra, il est aussi dit “Contempler le corps” (Kāya-anupassanā) etc. De nos jours les vénérables moines classent le sutra “Le récit de l’attention vigilante” dans le Vipassanā c'est à dire appartenant à la Sagesse. Donc, dans cet article, je le définirai aussi temporairement comme la Sagesse, c'est-à-dire utiliser la sagesse pour pratiquer
Saturday, February 24, 20249:13 PM(View: 859)
Tâm trong đạo Phật được giảng giải rất chi tiết tùy theo các tông phái trong đạo Phật. Bài viết này chỉ nhằm đáp ứng cho các Phật tử mới bắt đầu học Phật, giúp các bạn nhận ra tâm là gì?
Thursday, February 22, 20247:52 AM(View: 1059)
Khi biết mà không dính với tất cả những pháp thế gian hạnh phúc hay phiền lụy, thì ngay khi đó tâm trở về trạng thái tĩnh lặng, cái biết tự tánh sẽ hiển lộ, đây là cái biết của trực giác. Cái biết trực giác này sẽ phát huy đến vô lượng, đưa người thực hành vượt qua bể khổ đến bờ giác ngộ giải thoát...
Tuesday, February 20, 20243:56 PM(View: 912)
Lời ngõ: Loạt bài viết về các tầng Thiền của Đức Phật được trích từ quyển sách "Tiến Trình Tu Chứng Của Đức Phật" do Hòa Thượng Thích Thông Triệt biên soạn đã được phát hành lần đầu tiên năm 2005 và tái bản lần thứ nhì năm 2007. Mục đích của loạt bài viết này nhằm giúp cho Thiền sinh ôn lại phương thức thực hành đúng như lời Phật dạy. Kỳ này bài viết chỉ rõ phương thức thực hành để chuyển đổi từ tâm phàm phu sang tâm bậc thánh. Nếu không nắm rõ kỹ thuật thực hành thì xem như đường tu bị bế tắc đành phải chờ một duyên lành vậy.
Thursday, February 15, 20247:20 AM(View: 1144)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: MÓN QUÀ ĐẦU NĂM ngày mùng 2 TẾT Giáp Thìn 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, February 14, 20243:55 PM(View: 842)
A propos de la contemplation, il existe plusieurs variantes. Dans ce qui suit, je n’aborderai que l'Anupassanā, qui consiste généralement à contempler les phénomènes du monde de manière continue pour en saisir leur nature ou leurs caractéristiques qui sont: l’impermanence, la souffrance, le non-soi.
Wednesday, February 14, 20243:29 PM(View: 879)
Nach der erlangten Erleuchtung ging der Buddha zum Wildpark, um den fünf Brüdern des Ehrwürdigen Kondanna die ersten Dharma-Sutras zu predigen, darunter das Sutra *Die Merkmale des Nicht-Ich*
Friday, February 9, 20249:04 AM(View: 775)
So geht ein Frühling nie zu Ende. Auch wenn er einen anderen Namen wie Sommer, Herbst oder Winter hat, ist er immer der Frühling im Geist eines jeden. Wenn wir ihn Frühling nennen, ist er der Frühling. Wenn wir ihn nicht Frühling benennen, gibt es dann keinen Frühling, und wenn es keinen Frühling gibt, gibt es keine Jahreszeiten.
Tuesday, February 6, 20243:13 PM(View: 798)
Mùa xuân cũng vậy, không bao giờ chấm dứt, trong tâm mỗi người. Dù cho nó có tên là hạ, thu, hay đông đi nữa, nó cũng là xuân. Khi mình gọi là Xuân thì là Xuân của mình. Khi mình không gọi gì hết thì không có mình, cũng không có xuân, và cả thế gian cũng biến mất.
Wednesday, January 31, 202411:00 AM(View: 742)
Người sống trong Mùa Xuân Xuất Thế Gian này tâm trạng luôn vô tư, bình thản, an vui, tự tại trong mỗi sát-na. Trạng thái đó tương tục mãi từ sát-na này đến sát-na khác, và cứ thế mà hưởng mùa Xuân bất tận vĩnh cửu.
Monday, January 29, 20248:11 PM(View: 1076)
Lời ngõ: Loạt bài viết về các tầng Thiền của Đức Phật được trích từ quyển sách "Tiến Trình Tu Chứng Của Đức Phật" do Hòa Thượng Thích Thông Triệt biên soạn; đã được phát hành lần đầu tiên năm 2005 và tái bản lần thứ nhì năm 2007. Mục đích của loạt bài viết này nhằm giúp cho Thiền sinh ôn lại phương thức thực hành đúng như lời Phật dạy. BBT
Saturday, January 20, 20249:38 PM(View: 888)
Am 24.12 kamen eine Schülerin und ihre Familie mit einem Obstkorb zu Sunyata Chan Nhu zu Besuch. In der Nacht hat sie mir über ihr stressiges Leben erzählt: dem vielseitigen Berufsleben, den ganzen Tag nur den Bildschirm anzustarren, dann die lange, lästige Besprechung in der Firma, so dass sie die Stimme des Arbeitskollegen noch im Ohr hörte, als sie zu Hause ankam. Als ich das gehört habe, war ich traurig. Ist das Leben draußen so schwer?
Tuesday, January 16, 202412:47 PM(View: 1291)
Ngoài cái chớp mắt “đang là”, tất cả thân, tâm và cảnh là của quá khứ, của tương lai hay của hiện tại, chúng nó chỉ là ảo ảnh, ảo giác trong ký ức, hay trong tưởng tượng mà thôi. Hoa đào sẽ nở mỗi mùa xuân, nhưng đóa hoa năm nay đâu phải là đóa hoa năm trước. Người ngắm hoa đào bây giờ cũng không phải là người ngắm hoa năm cũ.
Tuesday, January 16, 202410:39 AM(View: 915)
Les cinq entraves sont les cinq liens qui enchaînent l'esprit humain dans les afflictions, créant ainsi de nombreux karmas qui le conduisent vers le samsara. Ces obstacles obstruent notre clarté d'esprit de telle manière que nous sommes embrouillés par l'ignorance et incapables de s'éveiller.
Tuesday, January 9, 20247:40 PM(View: 1502)
Đầu mối của thoát khổ, giác ngộ, và giải thoát bắt đầu từ điểm làm chủ sự suy nghĩ. Không làm chủ được sự suy nghĩ, phiền não và khổ đau vẫn dai dẳng theo ta; “lửa tam độc vẫn cháy;” bệnh tâm thể khó tránh; yên vui trong gia đình khó thành tựu; an lạc và hài hòa trong cuộc sống bình thường không thể nào có; Sơ Thiền, cũng không thể nào kinh nghiệm được.
69,256