HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

DD0457 HL Trần Văn Đạt BIÊN KHẢO - Bài 4/4: CÁC THIỀN SƯ LÃO THÀNH NỔI BẬT HIỆN NAY

Monday, November 28, 20226:23 PM(View: 255)

Thử Tìm hiểu Thiền Tông Việt Nam:
Bài 1/4: PHẬT GIÁO VÀ THIỀN THỜI CỔ ĐẠI Ở VIỆT NAM
https://www.tanhkhong.org/a3437/phat-giao-va-thien-thoi-co-dai-o-viet-nam
Bài 2/4: HAI THIỀN PHÁI XUẤT HIỆN THỜI BẮC THUỘC
https://www.tanhkhong.org/a3440/dd0448-hl-tran-van-dat-bien-khao-bai-2-4-hai-thien-phai-xuat-hien-thoi-bac-thuoc
Bài 3/4: Các THIỀN PHÁI CHÍNH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI ĐỘC LẬP PHONG KIẾN
https://www.tanhkhong.org/a3457/bai-3-4-cac-thien-phai-chinh-o-viet-nam-trong-thoi-doc-lap-phong-kien
Bài 4/4: CÁC THIỀN SƯ LÃO THÀNH NỔI BẬT HIỆN NAY
https://www.tanhkhong.org/a3468/dd0457-hl-tran-van-dat-bien-khao-bai-4-4-cac-thien-su-lao-thanh-noi-bat-hien-nay

Bài 4/4:
CÁC THIỀN SƯ LÃO THÀNH NỔI BẬT HIỆN NAY  

(từ 1954 đến đầu thế kỷ thứ 21)

 

H.L. Trần Văn Đạt

 

 

Trong khoảng thời gian giới hạn này, những thiền phái chính thốngViệt Nam vẫn còn tiếp tục con đường truyền thống hoặc hoạt động tương đối âm thầm như: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm, Lâm Tế, Tào ĐộngLiễu Quán dưới nhiều hình thức, thay đổi theo thời gian; trong khi một số nhánh thiền mới không phân biệt rõ rệt tông phái cũng xuất hiện vào hậu bán thế kỷ thứ 20 đến đầu thế kỷ thứ 21 với hướng đi riêng biệt. Tuy nhiên, đa số các thiền sư đều có cội nguồn từ các dòng thiền lâu đời. Trong những thiền sư Việt Nam lão thành nổi tiếng, một số vị sau đây có những hoạt động hoằng pháp nổi bật lâu năm được quan tâm ở trong và ngoài nước:

 

-         Hòa thượng Thích Thanh Từ (sinh năm 1.924-)
DD0457 Thich Thanh Từ
môn đồ của Hòa thượng Thích Thiện Hoa (1.918-1.973)là một trong những thiền sưảnh hưởng lớn đến công cuộc phục hưng thiền tông truyền thống Việt Nam ngày nay. Thiền Sư Thích Thanh Từ sinh ngày 24-7-1.924 tại xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, Vĩnh Long. Thiền sư đã thu nhận kiến thức và thực nghiệm đạo pháp từ nền giáo dục Phật học trong nước, sau đó Ngài khởi đầu sự nghiệp thiền với quyết định lên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu nhập thất trong hai năm cho đến khi khai sáng bắt đầu làm Phật sự [1]. Pháp thực hành thiền của Hòa thượng là dạy tăng chúng tu tập theo đường lối của Thiền sư Khuê Phong Mật tông, đó là kiến tánh khởi tu, thiền-giáo song hành và thực hành phương pháp Thiền Tri Vọng và pháp Lục Diệu môn[1]. Đặc biệt trong thực hành, Thiền sư đã dung hợp pháp tu của ba vị Tổ thiền: Nhị tổ Huệ Khả (494-601), Lục tổ Huệ Năng (638-713) và Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) để có một lối tu cụ thể gồm 4 pháp chủ  yếu: (i) Biết vọng không theo (ii) Đối cảnh vô tâm, (iii) Không kẹt hai bên, và (iv) Hằng sống với cái thật [2].

Thiền sư Thích Thanh Từ đã có nhiều công lao khi xây dựng tu viện mới ở Việt Nam gồm các tu viện Chơn Không, Bát Nhã, Linh Quang, các thiền viện mang tên Chiếu (như Thường Chiếu, Viên Chiếu…). Sau nhiều nỗ lực chấn hưng thiền trong nước, gần đây nhất, Thiền sư có công khôi phục lại dòng thiền Trúc Lâm. Ngài đã xây dựng một số tu viện lớn ở núi Yên Tử, Đà Lạt và nhiều nơi khác mang tên Trúc lâm để nối lại ý nghĩa của Trúc Lâm với nguồn gốc của nó. Tuy nhiên, cũng có nguồn tin cho rằng những gì Thiền sư đã tạo ra không phải là Phật giáo Trúc Lâm nguyên thủy, dù vậy vẫn có ảnh hưởng tích cực trong công cuộc hoằng phápcải cách Phật giáo trong và ngoài nước [3]. Hòa thượng Thích Thanh Từ đã đi du hoánổi tiếng ở nhiều nước trên thế giới.

 

-         Thiền sư Thích Duy Lực (1923-2000), 
DD0457 Thích Duy Lực
đệ tử Hòa thượng Thích Hoằng Tu, cao tăng người gốc Hoa đến Chợ Lớn, Sài Gòn hoằng pháp, thuộc dòng Tào Động hệ phái Cổ Sơn do ngài Vĩnh Giác Nguyên Hiền (1578-1657) sáng lập, chủ trương đào tạo các đệ tử theo phương pháp Thiền khán thoại đầu của tông Lâm Tế, khá thịnh hành tại miền Đông nam Việt Nam, được các môn đệ tiếp nối truyền bá đến nay [4,5].  Từ những năm 1990, Hòa Thượng thường đi giảng Thiền ở nhiều nơi trên thế giới, nhứt là ở châu Âu và Bắc Mỹ. Những năm cuối đời, Sư thường được thỉnh đến giảng tại các nước như: Chùa Chánh Giác ở Toronto Canada, Chùa Quan Âm ở Brisbane Úc, Tịnh xá Đại BiĐài Loan và một số chùa ở Hồng Kông. Nhất là các thiền đường ở Mỹ để giảng dạy pháp Tổ Sư Thiềnthiền sinh tham gia tu học đông đảo [6]

 

-         Thiền sư Đỗ Thuần Hậu (1883-1967)Thiền Sư Lương Sĩ Hằng (1923-2009):

DD0457 Do Thuan Hau
DD0457 Lương Sĩ Hằng


Ở miền Nam Việt Nam thời kỳ này  có nhóm Tu Thiền theo “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp”, được thành lập vào năm 1942 bởi cụ Đỗ Thuần Hậu (1883-1967) còn gọi là ông Tư và sau đó phát  triển rộng trong và ngoài nước dưới sự hướng dẫn tích cực của Thiền Sư Lương Sĩ Hằng (1923-2009) - pháp danh Vĩ Kiên và tên thường gọi là ông Tám. Dòng thiền này chủ trương đời đạo song tu, gồm có ba pháp chánh (Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển, Thiền Định) và một pháp phụ (Pháp Luân Chiếu Minh) rất quan trọng để thanh lọc bản thể và khai triển tâm linh [7].

 

-         Thiền sư Thích Nhất Hạnh (1.926-2.022)
DD0457 Thich Nhất Hạnh
tên là Nguyễn Xuân Bảo sinh ra ở cố đô Huế. Năm 16 tuổi, ông nhập tu tại chùa Từ Hiếu và sư phụ chính là Thiền sư Thanh Quý Chân  Thật. Ông là  một trong những nhà sư Phật giáoảnh hưởng lớn nhất thế giới, người đưa pháp mônChánh niệm tỉnh thứcphổ biến rộng rãi tại phương Tây và là người hăng say dấn thân cho hoà bình. Ông trú tại tu viện Làng Mai, miền Nam nước Pháp và cuối đời sốngViệt Nam, thuộc thế hệ thứ 8 dòng Liễu Quán và thứ 42 dòng Lâm Tế, người có nhiều công đức phát triển Thiền tông Việt Nam ở hải ngoại, trở thành vị Thiền sư nổi tiếng thế giới. Thiền sư Nhất hạnh viên tịch vào ngày 22-1-2.022 ở Huế. Tư tưởng thiền đạo của Thầy Thích Nhất Hạnhkết hợp nhiều giáo lý của Phật giáo nguyên thủy, truyền thống Phật giáo Đại thừa Yogācāra và Thiền, và những ý tưởng từ tâm lý học phương Tây để phổ biến chánh niệm về hơi thở và bốn nền tảng của chánh niệm, hình thành một hướng tu tập hiện đại về thực hành thiền định [8].

 

-         Hòa Thượng Thích Thông Triệt:
DD0457 Thích Thông Triệt
Đến cuối thế kỷ thứ 20 và đầu 21, trong số nhiều Thiền sư nổi tiếng hiện nay ở hải ngoại, Hòa Thượng Thích Thông Triệt (1929 - 2019), Pháp danh Nhật Chiêu, đạo hiệu Thông Triệt, đời thứ 41 Lâm Tế, khai tông lập phái Thiền học Tánh Không  năm 1995, thuộc Thiền Trúc Lâm từ thế kỷ thứ 13 cùng tông Lâm Tế từ thế kỷ thứ 17 [8]. Thiền Tánh Không chủ trương thực hànhphổ biến tu tập căn cứ trên đường lối thực hành chứng đạothành đạo của Đức Phật Thích Ca, mang sắc thái trung đạokết hợp với thành quả nghiên cứu khoa học não bộ để giúp người tu học giữ được thân tâm lành mạnh, phát huy trí tuệ hầu nuôi dưỡng tâm linh luôn được trong sáng, tỉnh lặng, từ bibình đẳng. Mục tiêu rốt ráo của Thiền Tánh Không là giúp đại chúng có được sự hài hòa tâm, thân và trí tuệ để có cuộc sống nhiều an lạc hơn. Đặc biệt, Thầy Thiền chủ sử dụng phương tiện Ly Ngôn hay Không Lời do Phật và Tổ chỉ dạy để thực hành. Cốt lõi của phương pháp thực hành thiền đạt được cái vô sanhtánh giác gồm 2 trọng điểm: (i) Biết không lời (nonverbal awareness) và (ii) Đối tượng biết (the object of awareness) và Tánh biết (the nature of awareness or the awareness) trong giai đoạn tu tập để tiến đến Nhận thức biết không lời chứng ngộ Niết Bàn. Thiền học Tánh Không hiện đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới bao gồm 19 đạo tràng tại Bắc Mỹ, châu Âu, Úc châu và Việt Nam .

 

Ngoài ra, còn có một số thiền sư thế hệ sau cũng nổi tiếng không ít được nhiều thiền sinh đạo hữu trọng vọng ở hải ngoại, bao gồm Thầy Hằng Trường (sinh 1.961 tại Huế), Hòa Thượng Viên Minh (sinh 1.944 tại Quảng Trị), Hòa Thượng Phước Tịnh (sinh 1.947 tại Đồng Tháp), Sư Giác Nguyên (Toại Khanh sinh 1.969), Ni Sư Thích Nữ Chân Thiền (Thiền Công án, là đệ tử của Ngài Philip Kapleau, sinh 1.938 tại Bến Tre) (liên lạc với Tuệ Chiếu) v.v., chưa kể đến nhiều vị thiền sư chân chính nổi tiếng trong nước.

 

Tóm lại, Phật giáoThiền tông là cột sống, pháp tu học vững chắc của tôn giáo này đã có mặt trên đất nước Văn Lang ít nhứt từ đời vua Hùng Vương thứ 7 đến 18 cách nay khoảng 2.300 năm. Tất cả các dụng công tu tập của các dòng Thiền đều hướng về tâm để tìm hiểu, an trụ và phát huy bản thể chân thật của tâm hay tánh giác trong sáng của mình để sớm được giác ngộgiải thoát. Qua thời gian, Thiền tông Việt Nam lớn mạnh, bền vữngđặc biệt nở rộ trong hậu bán thế kỷ thứ 20 và đầu thế kỷ thứ 21 sau khi trải qua nhiều biến cố và khó khăn của đất nước. Sự truyền bá Phật giáo tại Việt Nam vẫn mở rộng từ những ngày đầu lập quốc với Sơ tổ khởi tông Việt Nam Khương Tăng Hội đến nay, bên cạnh các dòng thiền du nhập sau này từ nước ngoài - Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn ThôngThảo ĐườngTào Động và Lâm Tế; từ đó tư tưởng của ba dòng Thiền đầu tiên được hòa nhập vào văn hóa Việt để trở thành Thiền phái dân tộc Trúc Lâm, sau này có thêm dòng Liễu Quán. Tuy nhiên, hiện nay các thiền phái không còn mang rõ nét của những dòng thiền chính thống du nhập và dường như đang có khuynh hướng tách rời các nhánh Phật giáo đương đại để trở thành thiền phái độc lậpcá biệt, trái với xu hướng hội nhập trong giai đoạn Phật giáo suy đồi để tồn tạithích ứng với nền văn hóa xã hội bản xứ ngày nào.

Do trào lưu tiến hóa nhân loại, cách tu tập thiền ngày càng xa dần các phong thái mật truyền, tâm ấn, đốn ngộ, công án, thoại đầu, các lời nói như vô nghĩa… của các dòng thiền có nguồn gốc Trung Quốc, mà thiên về những pháp thực hành đơn giản, thực tiển và có tính cách nhân văn hơn. Chẳng hạn, việc truyền dạy, tu tập, hoằng pháp được thể hiện công khai bằng truyền tải kinh nghiệm tu tập, chuyển giao kỹ thuật thực hành, hiểu biết khoa học, kết hợp hồi đáp sinh học với mục đích thực tế về sức khỏe thân tâm, phát huy trí tuệ siêu việt, và mở rộng lòng từ bi hỉ xả. Trong khi đó, thiền sự được phát huy và lan rộng nhanh chóng khắp nơi nhờ các kiến thức hiểu biết sử dụng những phương tiện thiết bị tiên tiến như Radio, TV, CD, DVD, USB, trang Web, Blog, Facebook, Viber, Youtube, Zoom… trực tuyến hoặc gián tiếp; điều này đang giúp các thiền đường, cơ sở tu học, cư sĩ, tăng ni hoạt động hữu hiệu hơn trong việc truyền tải Phật pháp đến đại chúng. Từ đó, những dòng thiền hiện hành tự chuyển hóa để thích nghi với nền văn minh hiện đại; đồng thời hỗ trợ thiền sinh, giáo thọ, cư sĩtăng ni hội nhập hiệu quả vào các nền văn hóa xã hội thế giới mở rộng để cùng có cuộc sống tạm dung an lạc, trong khi hướng tâm tu tập về giải thoát rốt ráo lâu dài.

Vạn pháp chảy về tâm

An lạc đến âm thầm.

Chân tâm hằng trống rỗng

Có thật cũng là không!

 

Tóm lược niên biểu thành lập các phái Thiền tôngViệt Nam như sau [9,10]:

-         Thế kỷ thứ 3 - 2 tr TL: đạo Phật nguyên thủy từ Ấn Độ truyền vào Giao Chỉ và Champa.

-         Năm 189 sau TL: Lý hoặc Luận, tác phẩm về đạo Phật bằng chữ Hán đầu tiên được Mâu Tử viết tại Giao Chỉ.

-         Năm 247: Đại sư Khương Tăng Hội là người Việt đầu tiên sang Đông Ngô, Trung Quốc truyền đạo. Hiện nay, Đại sư được một số nhà nghiên cứu Phật học trong nước tôn vinh là Sơ tổ đầu tiên của Thiền học Việt Nam.

-         Năm 580: Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi ra đời ở ĐạiViệt.

-         Năm 820: Thiền phái Vô Ngôn Thông được thành lập theo thiền Nam tông.

-         Năm 1009: nhà Lý ra đời, mở đầu cho thời kỳ cực thịnh của đạo Phật tại Việt Nam kéo dài 400 năm.

-         Năm 1069: thành lập Thiền phái Thảo Đường.

-         Năm 1299: thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thiền phái lớn đầu tiên của người Việt.

-         Năm 1400: nhà Trần mất; nhà Hậu Lê tôn vinh Nho học làm quốc giáo; đạo Phật bắt đầu suy thoái.

-         Thế kỷ thứ 17: hai dòng Thiền Nam tông quan trọng là Lâm TếTào Động truyền vào Việt Nam từ Trung Quốc, phát triển tại Đàng Trong và Đàng Ngoài.

-         Thế kỷ 18: dòng Liễu Quán do Sơ Tổ Việt Nam thành lập.

-         Năm 1884: Pháp hoàn tất xâm chiếm Việt Nam, đạo Phật tiếp tục suy thoái do bị chèn ép và không được quan tâm so với Thiên Chúa giáo.

-         Thế kỷ thứ 20: Phật giáo phục hưng tại Việt Nam và một số dòng thiền mới được thành lập, Phật giáo Nam tông (Nguyên thủy) xuất hiện; nhưng không quan tâm nhiều đến sự khác biệt môn phái.

-         Tháng 11/1954: Giáo hội Thiền Tông Việt Nam chính thức được thành lập tại Gia Định.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Thanh_T%E1%BB%AB
  2. Thích Thanh Từ. 1991. Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20. Asian printing, Westminster, Nam Cali, 354 trang.
  3. Thích Thanh Từ: https://en.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Thanh_T%E1%BB%AB.
  4. Nguyên Giác. 2020. The Way of Zen in Vietnam - Thiền Tông Việt Nam (sách song ngữ) - Thiền - Thư viện Hoa Sen (thuvienhoasen.org)
  5. Thiền tông tại Việt Nam: Thiền tông – Wikipedia tiếng Việt 
  6. Thích Duy Lực: Tiểu sử Hòa Thượng Thích Duy Lực (tosuthien.com)
  7. Pháp lý Vô vi: https://thuyetgiangphatphap.com/phap-ly-vo-vi-khoa-hoc-huyen-bi-phat-phap/
  8. Thích Nhất Hạnh: https://en.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Nh%E1%BA%A5t_H%E1%BA%A1nh
  1. Nguyễn Tường Bách. 2021. Video Sự phát triển của Phật Giáo tại châu Á. (https://www.tanhkhong.org/p1185a1856/dd199-nguyen-tuong-bach-su-phat-trien-cua-phat-giao-tai-chau-a-
  2. Tuệ Thiện Hồ Hồng Phước. Niên biểu lịch sử Phật giáo Việt Nam: https://thuvienhoasen.org/images/file/3luRj7ut1QgQAPtr/nienbieulichsu-pgvn-2-.pdf.
  3. Lịch sử Phật giáo Việt Nam:

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam

 

 



[1] Lục Diệu môncăn bản của người nội hành. Đức Thích Ca mới đến cội bồ ngồi kiết già đề suy nghĩ pháp An-Ban: Sổ tức (đếm hơi thở), Tùy tức (để tâm theo hơi thở), Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh (Wiki).

 

Reader's Comment
Tuesday, November 29, 20228:24 PM
Guest
ĐA TẠ

Thân tặng Pháp Hữu
Huy Lữ Trần Văn Đạt

Đa tạ người đã viết ra
Những bài biên khảo thật là tuyệt thay !
Tuyệt thay ! là ở chỗ này :
Từ lâu tôi đọc, nhưng nay quên rồi

Muốn nhớ, thì phải tìm tòi
Khổ công tìm kiếm ! tìm tòi ở đâu ?
Nhưng mà thật quá nhiệm mầu
Sẵn bài biên khảo, không cầu ! mà đây !

Trần Văn Đạt, bạn quá hay !
Không hay sao lại viết đầy bao trang !
Tôi xin tán thán bạn vàng
Những bài biên khảo, thật đáng để đời !!!

11/25/2022
Tiểu Thất
HUỲNH GIA TRANG
Không Lạc
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
175,937