KÝ SỰ CHUYẾN DU HÓA MELBOURNE THÁNG 10 - 2025

Năm nay, khóa tu thứ nhất tổ chức tại chùa Quang Minh như thường lệ, chắc cũng 10 năm rồi. Khóa tu kéo dài trong 5 ngày, từ thứ tư ngày 08 tới chủ nhật ngày 12 tháng 10. Tăng đoàn cũng tạm trú tại tư gia của Nhuận Hảo - Diệu Thời. Sau đó là khóa tu thứ hai tổ chức tại thành phố Melton, thiền viện Như Huyễn do sư cô Như Minh điều hành. Khóa tu thứ hai trong 7 ngày, từ thứ hai ngày 13 tới chủ nhật ngày 19.
Tất cả tăng đoàn và đa số thiền sinh được nội trú tại thiền viện. Tăng đoàn năm nay gồm có quý sư cô Như Minh, sư cô Như Ngọc thì từ Sydney bay về, cô ni Như Linh từ Cairns cũng bay về, cô ni Như Vân tháp tùng mình từ tổ đình qua. Ngoài ra có quý sư cô từ Việt Nam cũng bay qua tham dự, là sư Thắm Liên, sư Diệu Nghiêm, sư Pháp Tràng. Quang Minh từ Adelaide cũng về dự khóa tu tại thiền viện Như Huyễn và phụ trách hướng dẫn khí công tại đây. Nhờ được nội trú tại thiền viện Như Huyễn nên tất cả có thêm phần tu tập buổi sáng sớm: Lễ Phật và Tổ, ngồi thiền, tập khí công; tu tập buổi tối: Ngồi thiền, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm. Hai buổi sinh hoạt này nhờ sư cô Như Minh phụ trách.


Nội dung ôn tập trong các khóa tu này chỉ là
- Làm sao nhận ra khi nào là vọng tâm, khi nào là chân tâm.
- Thực tập qua thấy, nghe, xúc chạm để nhận ta tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm.
- Thực tập để nhận ra khi sống bình thường, thế nào là Quán / Anupassanā khi thấy, thế nào là Tuệ / Vipassanā thấy như thực, thế nào là Giới, thế nào là Chỉ / Samatha, thế nào là Định/ Samādhi. Mục tiêu là để thiền sinh bớt cố chấp vào tên gọi, không còn chấp pháp.
Nói tổng quát, sau này mình hướng dẫn càng ngày càng đơn giản vì nhiều lý do:
- Trong khóa tu thường có thêm thiền sinh mới, mới hoàn toàn vì chưa biết tới Phật giáo hay chưa biết tới thực hành Thiền.
- Có khi có thiền sinh từ các pháp môn khác tham dự.
- Ôn lại cốt lõi giáo lý và thực hành cho những thiền sinh kỳ cựu dễ nắm bắt và ghi nhớ đúng.
- Điều quan trọng nhất là chân lý là thực tại hiển nhiên. Càng cố gắng diễn tả, càng rơi vào chủ quan. Kinh điển tạm khơi ra trong cách đơn giản nhất để chúng ta có thể hiểu (tạm cho là phần Văn). Phần Tư, là công việc của mình, suy gẫm thêm, hiểu rộng hơn, sâu sắc hơn về thực tại. Cuối cùng là Tu, đem áp dụng trong đời sống, tức là chấp nhận thực tại, sống tùy duyên thuận pháp. Những cảnh già, bệnh và chết, là việc bình thường của đời sống không thể nào khác hơn; những chuyện vặt như người khác lường gạt, lợi dụng, chê bai, sỉ nhục, dán nhãn rêu rao về mình v.v., đều là việc bình thường của cuộc đời, của tâm đời, không có gì lạ. Vì hiểu rõ như vậy, mình bớt ưu tư, bớt phiền não, bớt đau khổ.
- Mục tiêu các khóa tu vẫn là nhận ra chân tâm của mình, nhận ra đơn giản hay sâu sắc lại là tùy nơi căn cơ mỗi người. Rồi đem ra áp dụng được trong đời sống, mỗi người lại cảm nhận khác nhau, cuộc đời vẫn còn áp lực trên vai mình, hay đã nhẹ gánh phần nào, việc làm nhẹ nhàng, gia đình êm ấm hơn.
- Nội dung trình bày trong các khóa tu thường xoay quanh cái trục chân tâm.
- Phương tiện chỉ bày ra cái biết của chân tâm là qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tất cả là những chiêu thức hay kỹ thuật từ thầy Thiền Chủ:
. Mắt: Lóe sáng biết đầu tiên khi tiếp xúc đối tượng, nhìn lướt, nhìn tổng quát, nhìn lưng chừng giữa ta và đối tượng, nhìn mà không gọi tên đối tượng.
. Tai: Nghe tiếng chuông, nghe tất cả âm thanh.
. Mũi: Thở
. Lưỡi: Thư giãn lưỡi.
. Thân: Thiền hành
. Ý: Giữ chánh niệm tỉnh giác, cái Biết rõ ràng, trong sạch, không có tham sân si, hay không có lậu hoặc, hay không khởi ý giết hại, không khởi ý gian tham, không khởi ý tà hạnh, không khởi ý nói dối, không khởi ý uống rượu, v.v.
- Kết quả là có kinh nghiệm cái biết rõ ràng, trong sạch, tĩnh lặng và khách quan của chân tâm. Trong thực tế có rất nhiều mức độ hay phẩm chất của chân tâm tùy nơi căn cơ mỗi người. Tổng quát, chân tâm sẽ có những phẩm hạnh sau:
. Có Giới đức (Sīla): Không phạm 5 giới của cư sĩ, không phạm 10 giới của sa di, không phạm 250 giới của tỳ kheo, không phạm 348 giới của tỳ kheo ni vv. Vì sao? Đây là những giới tướng, còn chân tâm là giới tánh.
. Có Quán (Anupassanā): Tuệ trí thông suốt vô thường, vô ngã, duyên sinh.
. Có Chỉ (Samatha): Tâm yên lặng.
. Có Định (Samādhi): Tâm vững chắc, không dao động lung lay theo cảnh đời.
. Có Tuệ (Vipassanā): Tuệ tri như thực, biết khách quan.
. Có Tuệ Bát nhã (Paññā): Sẽ tiến tới kiến giải những nhận thức mới lạ mà mình chưa biết, nhưng đều khế hợp với lời Phật dạy.
- Chân tâm hiển hiện ra trong đời sống:
. Phát huy từ từ lòng thương mến, kính quý mọi người, cảnh, vật… như nhau, bình đẳng (tâm từ), thấy người hay vật cần giúp đỡ thì giúp đỡ theo khả năng của mình (tâm bi), thấy ai giàu sang, thành công, hạnh phúc thì khởi ý vui theo mà không ghen ghét (tâm hỷ), tâm mình luôn thanh thản, trong sáng (tâm xả).
. Trí nhớ tốt hơn, chỉ ghi nhớ những chân lý và những phương thức mà Đức Phật đã chỉ bày.
. Có khả năng trình bày ra cho người khác cũng hiểu và thực hành như chính mình kinh nghiệm. Kinh gọi là tứ vô ngại giải hay biện tài vô ngại.
. Dùng từ ngữ chính xác để diễn tả.
. Câu nói dễ hiểu, ngắn gọn.
. Ý nghĩa rõ ràng, chính xác.
. Lý luận sắc bén.
Ngoài ra, trong Ngũ minh của hàng bồ tát, năm trí tuệ để ra giáo hóa, có nói tới âm thanh giảng pháp nữa:
+ Nhân minh: Thông suốt chân lý Y Duyên Tánh hay là tương quan nhân quả khi ra giảng pháp.
+ Y phương minh: Biết thêm về thuốc trị bệnh.
+ Công xảo minh: Có khả năng khéo léo trong các việc phổ thông của đời sống thực tế.
+ Nội minh: Thông suốt kinh điển của Phật dạy.
+ Thanh minh: Âm thanh hay lời nói rõ ràng, êm dịu, tao nhã, có từ bi, có trí tuệ, lưu loát, không ngăn ngại (không lắp lắp, vụng về, khó nghe…)
Trên đây là nội dung các khóa tu sau này. Tuy nhiên, nếu là đạo tràng mới thì nghiêng về phần chỉ bày các tánh để có thể nhận ra chút chút chân tâm; nếu là những đạo tràng kỳ cựu trên 20 năm thì khai triển phần làm sao phát huy trí tuệ Bát nhã để có khả năng ra hướng dẫn.
Sau khi bế giảng khóa tu tại thiền viện Như Huyễn ngày 19 tháng 10 năm 2025. Qua hôm sau mình rời Melbourne bay về Sydney.
Sài Gòn, ngày 21 - 11 - 2025
TN
