Hòa Thượng Thích Thông Triệt
LUẬN GIẢNG về BÁT CHÁNH ĐẠO
Pali: SammA Aṭṭhaṅgika Magga
CHÁNH KIẾN
P: sammā-diṭṭhi
Tám chi trong Bát Chánh Đạo gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
1. CHÁNH KIẾN P: sammā-diṭṭhi; Skt: samyag-darsana = right seeing, right views, right understanding: thấy đúng, nhìn đúng, hiểu biết đúng. Chánh kiến Ià sự lãnh hội hay hiểu biết được điều gì sai, điều gì đúng; điều gì không thiện, điều gì thiện. Nó Ià bước quan trọng đầu tiên đưa đến chấm dứt những quan điểm chủ quan, để có tuệ trí. Trở ngại của chánh kiến Ià quan niệm sai lầm của cá nhân hay tà kiến về "Ta." Thuật ngữ gọi Ià "thân kiến" (sakkāya- diṭṭhi = the misconception of individuality). Thân kiến Ià sợi dây ghê gớm nhất trong ngũ kiến (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ kiến), nó cản trở ta trên đường tu hay vào dòng thánh (sotāpatti = the stream of holiness). Vì thế khi chánh kiến thực sự có mặt trong ta, trí năng không còn mê chấp, nó chuyển hóa con người phàm tục trở thành người cao thượng.
Sự lãnh hội này bao gồm:
- Hiểu rõ 1) sát sanh (killing), 2) trộm cắp (stealing), 3) tà dâm (sexual misconduct), 4) nói láo (lying), nói đâm thọc, gây chia rẽ, gây ly gián, phá hoại sự hòa hợp, 5) phỉ báng, tức nói xấu (slandering), 6) nói lời thô bỉ (rude speech), lỗ mãng (harshness), 7) ngồi lê đôi mách (gossip), nói chuyện phù phiếm (frivolous talk), 8) tham lam (covetousness), 9) sân hận (aversion) và 10) tà kiến (wrong views) Ià không phân biệt được sái quấy hay bất thiện.
- Hiểu biết rõ gốc rễ 10 bất thiện pháp:
- Về thân kiến, Phật nói có 3 loại: 1) Sát sanh, 2) Lấy của không cho, 3) Tà hạnh trong các dục với phụ nữ.
- Về miệng, Phật nói có 4 loại: 1) Cố ý vọng ngữ: biết; nói không biết; không biết; nói biết; thấy; nói không thấy; không thấy; nói thấy. 2) Nói hai lưỡi, đâm thọc, gây chia rẽ, gây ly gián, phá hoại sự hòa hợp. 3) Nói lời thô ác, khiến người đau khổ, tức giận, không đưa đến thiền định. 4) Nói lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời không lợi ích, không thuận lý.
- Về ý, Phật nói có 3 loại: 1) Tham ái, tham lam (greed) tài vật kẻ khác. 2) Từ tâm sân (hate) nổi lên ý hại người bằng nhiều cách. 3) Tâm si (delusion) Ià có tà kiến, có tưởng điên đảo.34
Phật dạy 10 hành động đúng pháp, đúng đạo, như:
- Về thân: 1) Từ bỏ sát sanh, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. 2) Từ bỏ lấy của không cho. 3) Từ bỏ tà hạnh đối với các dục với phụ nữ.
- Về miệng: 1) không cố ý vọng ngữ: biết; nói biết. Không biết; nói không biết. Thấy; nói thấy. Không thấy, nói không thấy. 2) Từ bỏ nói hai lưỡi: không nghe điều gì ở chỗ này đến chỗ kia nói lại, cũng không nghe điều gì ở chỗ kia đến chỗ khác nói lại; không gây chia rẽ, không gây ly gián, và cũng không phá hoại sự hòa hợp. 3) Từ bỏ lời nói ác độc: nói lời nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. 4) Từ bỏ lời nói phù phiếm: nói đúng thời, nói những lời chân thật, có ý nghĩa, hợp Chánh pháp, thuận lý, có lợi ích.
- Về ý: 1) không tham ái, không tham tài vật kẻ khác. 2) Không sân, không khởi ý hại người. 3) Có chánh kiến, không có tưởng điên đảo34, không có tâm điên đảo, không có kiến điên đảo.
Chánh kiến cũng được Phật mô tả Ià sự lãnh hội Pháp Duyên Khởi:
Nếu biết rõ nguồn gốc các tiến trình hình thành và chấm dứt của 12 chi nêu trên, ta sẽ có chánh kiến và lãnh hội 3 đặc tính hiện tượng Ià vô thường, khổ và vô ngã.
Trong Đại kinh Bốn Mươi, Đức Phật đề cao vai trò chánh kiến và Ngài vạch ra những chi tiết về chánh kiến để các vị đệ tử Phật hiểu rõ những ý nghĩa và tác dụng của việc thực hành chánh kiến. Nếu thấm nhuần chánh kiến, ta sẽ phân biệt rõ giữa tà kiến và chánh kiến. Thân, lời, ý được trong sạch đều dựa trên chánh kiến.
Phật xếp vai trò chánh kiến trong nhiều lãnh vực khác nhau. Thí dụ như chánh kiến hữu lậu, chánh kiến vô lậu. Ngoài ra với chánh kiến, ta nhận ra các loại tà tư duy, chánh tư duy, tà ngữ, chánh ngữ; tà nghiệp, chánh nghiệp; tà mạng, chánh mạng; tà niệm, chánh niệm; tà định, chánh định.
- Thế nào Ià chánh kiến đi hàng đầu? Phật nói: - Tuệ tri tà kiến (wrong view) Ià tà kiến và chánh kiến Ià chánh kiến. Như vậy Ià chánh kiến của vị ấy. (Đây Ià hiểu biết bản thể (tánh) của thực tại đúng hay sai như thế ào)
- Thế nào Ià tà kiến? Phật nói: - Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự (sacrificed), không có quả báo các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh (no being who are reborn spontaneously); ở đời không có các vị Sa môn, Bà la môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thuợng trí tự mình chứng đạt lại tuyên bố Iên. Như vậy, Ià tà kiến.
- Thế nào Ià chánh kiến?...Phật chia chánh kiến có hai loại:
- chánh kiến hữu lậu (right view that is affected by taints), thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y35 (conduces to a favorable rebirth) (upadhivepakka-clings to rebirth);
- chánh kiến thuộc loại bậc Thánh, vô lậu (anasavà-taintless), siêu thế (lokuttara: supramundane), thuộc đạo chi (maggaṅga: a factor of the path).
- Thế nào Ià chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Phật giải thích: - Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loài hóa sanh; ở đời có các vị Sa môn, Bà là môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt lại tuyên bố lên. Như vậy, Ià chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
- Thế nào là Chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu (taintless), siêu thế, thuộc đạo chi? Phật giải thích: - Phàm cái gì, này các Tỳ kheo, thuộc trí tuệ, tuệ căn (the faculty of wisdom), tuệ lực (the power of wisdom), trạch pháp giác chi (the investigation-of-states enlightenment factor), chánh kiến đạo chi (the path factor of right view) của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm (anAsavacitta- a thought free from intoxication), có Thánh tâm (ariyacitta -perfect thought). Chánh kiến như vậy, này các Tỳ kheo, thuộc bậc thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến (to abandon wrong view), thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn (right effort) của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến (abides right view); như vậy là chánh niệm (right mindfulness) của vị ấy.
Như vậy, ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
Ở đây, này các Tỳ kheo, thế nào là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà tư duy là tà tư duy, tuệ tri chánh tư duy là chánh tư duy. Như vậy là chánh kiến của vị ấy.
Phật giảng về tà tư duy:
- Dục tư duy (the intention of sensual desire), sân tư duy (the intention of ill-will), hại tư duy (the intention of cruelty). Như vậy là tà tư duy.
Giảng về chánh tư duy Phật nói: - Chánh tư duy, này các Tỳ kheo, ta nói có hai loại: có loại tư duy hữu lậu, thuộc phước báo đưa đến quả sanh y35... Đây là loại ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy.
Về loại thứ hai, Phật nói: - Chánh tư duy thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Về chánh tư duy này, Phật giải thích: "Phàm cái gì thuộc suy tư; tầm cầu, tư duy, ngữ hành (verbal formation) do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm của một vị tu tập chánh đạo, thành thục trong chánh đạo, có vô lậu tâm, có chánh tâm; chánh tư duy như vậy; này các Tỳ kheo, thuộc bậc thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Ai tinh tấn đoạn trừ tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn tận trừ tà tư duy, chứng đạt và an trú chánh tư duy, như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh tư duy, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm... " (Trung Bộ kinh III, 117. Đại Kinh Bốn Mươi, tr.238-241)
Sau cùng, chánh kiến bao gồm lãnh hội 4 Chân lý Cao Thượng (Tứ Diệu Đế) và 3 chân tánh hiện tượng hay Tam Pháp Ấn, gồm Vô thường, Khổ, và Vô ngã. Đây là nhận ra rõ rằng tất cả hiện tượng thế gian đều vô thường, hiểu rõ nội tâm là một bãi chiến trường xung đột, và hiểu rõ tất cả hiện tượng thế gian đều vô ngã hay không thực chất tính.
Khi đã lãnh hội rõ ràng tất cả những điều như thế, vị ấy được gọi là người thông suốt giáo lý hay người ngộ được chân tính của vạn pháp (realized the true nature of things). Đây chính là lúc tuệ trí (insight) vị ấy được mở rộng hay tăng trưởng. Vị ấy nhận ra rõ ràng sự thăng trầm của dòng sinh diệt của tất cả sự vật (the stream of growth and decay of all things) là một qui luật. Tất cả hiện tuợng luôn luôn ở trong tiến trình trở thành. Từ đó tri kiến (ñāṇa: knowledge) vị ấy không còn dính mắc với hiện tượng thế gian; trái lại ở trong trạng thái xả36, tức trạng thái bình thản (even state). Ngay nơi đây, "thân kiến" tức cá tính hay tính chất cá nhân (individuality= sakkāya-diṭṭhi) chấm dứt, con người phàm tục (putiujjana) chuyển thành (transforms into) bậc thánh. Lúc bấy giờ tâm thoát khỏi những chấp trước và tham ái.
Tóm lại điểm then chốt trong chánh kiến là:
1. Trên phạm vi Tục đế, ta cần đạt được tri kiến tương ưng chân lý (saccānulomijañāṇa - knowledge in conformity with the truths). Phần này gồm 2 điểm:
2. Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý (saccapaṭivedhañāṇa - knowledge in penetration into the truths). Phần này gồm 2 điểm:
1) Biết như thật khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ.
2) Biết như thật ta là chủ của nghiệp do ta tạo nên. Triệt tiêu được ý niệm "Ta," ý niệm về nghiệp chấm dứt. Không có nghiệp để trả và cũng không có người chịu quả báo.
Tóm kết:
Chánh kiến trong Bát Chánh Đạo gồm hai chủ điểm:
1) Quan niệm Chánh kiến: - Trí năng nắm được những nguyên tắc qui định về chánh kiến trong giáo lý. Trí năng lãnh hội đúng chánh pháp và quan sát sâu sắc về ý nghĩa của nội dung chánh kiến. Cuối cùng trí năng đạt được hiểu rõ ràng nội dung chánh kiến. Thuật ngữ gọi trạng thái này là "Chánh kiến phù hợp (tương ưng) với chân lý'' ("saccānulomika-sammādiṭṭhi - the right view in conformity with the truths." Vì vậy, nếu trí năng không nắm vững quan niệm chánh kiến gồm những nội dung như thế nào, ta khó đạt được "tương ưng-ānulomika = conformity, suitable, fit, agreeable" với chân lý. Và như vậy ta sẽ không đạt được thể nghiệm chánh kiến (experiential right view). Lý do, thể nghiệm là kinh nghiệm dựa trên cách ta đã nắm vững điều ta đã lãnh hội, đã nhận thức rõ ràng, và đã ghi nhớ điều đó. Điều đó thực sự đã nội tại trong nhận thức của ta. Đó là nhận thức cô đọng.
2) Thể nghiệm chánh kiến: - Trí huệ khởi lên qua thể nhập trực tiếp giáo lý bằng chính kinh nghiệm của ta. Sự thể nghiệm này phải dựa vào sự nắm vững quan niệm chánh kiến (conceptual right view) do giáo lý qui định. Nếu đạt được như thế, gọi là chánh kiến thể nhập chân lý ("saccapafivedha-sammādiffhi - the right view penetrates into the truth"). Khi đã thực sự thể nhập chánh kiến, chính chánh kiến đã nội tại trong nhận thức cô đọng của ta. Từ đó, 3 nghiệp của ta sẽ thanh tịnh, thấy biết như thật sẽ thường xuyên gắn liền trong 4 oai nghi. Cuối cùng, trí huệ được triển khai; phàm tình vọng chấp hay năng lực vô minh không còn khả năng thúc đẩy tâm ta đi vào tà kiến. Tâm nhị nguyên chấm dứt. Dính mắc chấm dứt. Theo đó, khổ cũng chấm dứt. Ở trường hợp này, chánh kiến được xem là nền tảng của nhận thức biết không lời, tức Tâm Như.
_________________________________
Trích Đoạn từ
Bài Đọc Thêm Số 2
KHÓA BÁT NHÃ
LỚP TRUNG CẤP 2
