Ta Phàm Phu Và Vô Ngã

02 Tháng Sáu 20188:48 SA(Xem: 941)

 

 

 

 TA PHÀM PHU VÀ VÔ NGÃ

 Nguyên bản Anh Ngữ:  WORLDLY SELF and NO SELF

 do

 Thích Không Triệt

(David B. Johnson, Ph.D.)

 và

Triệt Minh

(Helene Phan-Thanh)

  2018

 Honolulu, Hawaii

 
Bản dịch Việt Ngữ do:

 Như Lưu

 Adelaide, Australia



MỤC LỤC

 

CẢM TẠ
DẪN NHẬP
CÁI TA LÀ GÌ?
KHÁI NIỆM VỀ TA
TỰ NGÃ
Sự trống rỗng của cái TA
Tâm phàm phu và cái ta 
Khổ là gì?    
              Vô thường và khổ
              Đau khổ và phát triển tâm linh         
              Ngũ uẩn và khổ
Cái ta liên hệ ra sao với khổ Đau?
              Buông bỏ đau khổ
Cái ta và sự nhận biết – Ai biết và biết cái gì?
              Nhận biết và suy nghĩ
              Nhận biết tinh thuần – Không có chủ thể/khách thể, vô ngã
              Vượt qua cái ta phàm phu dính vào hiện tượng thế gian
              Vô ngã, hết khổ đau        
Vì sao kinh nghiệm cái biết không lời có thể thay đổi cuộc đời của ta khi ta còn sống trên thế giới này
Đề nghị đọc thêm

 

Thầy Thích Không Triệt
Thầy Thích Không Triệt

 

CẢM TẠ

 

Các tác giả bài này mong muốn bày tỏ lòng tri ân Thiền Sư Thích Thông Triệt đã dẫn dắt và truyền Phật pháp cho chúng tôi. Các sách và bài viết của Thầy đã là động cơ thúc đẩy chúng tôi viết bài này. Chúng tôi tri ân Thầy đã đọc bài này và giúp chúng tôi ý kiến để bài này được hoàn hảo hơn.

 

Chúng tôi cũng cảm ơn thiền sinh Như Lưu đã dịch bài này ra Việt Ngữ. Nhờ vậy mà Thầy Thích Không Đăng đã đọc được bản dịch cho Thiền Sư Thích Thông Triệt nghe, và do đó Thầy Thích Thông Triệt đã góp ý được cho chúng tôi.

Sau cùng, chúng tôi xin cảm tạ tăng đoàn và thiền sinh Thiền Tánh Không đã hỗ trợ việc biên sọan bài viết này.

Chúng tôi chân thành cáo lỗi cùng quý bạn đọc nếu bài viết có điểm gì sai lầm và chúng tôi hoan hỷ đón nhận mọi ý kiến cải thiện.

 

DẪN NHẬP

 

Các tác giả đã trình bày nội dung bài viết này trong nhiều buổi nói và chia xẻ Pháp với nhiều nhóm người tại Honolulu, Hawaii và Việt Nam. Dù bài này viết bằng Anh Ngữ, nhưng nội dung đã được chúng tôi trình bày bằng Anh Ngữ và Việt Ngữ, tùy theo cử tọa. Trong bài này, chúng tôi mong muốn trình bày những điều có thể coi là cốt lõi của Phật pháp. Những điều này cũng rất cần thiết để chúng ta hiểu những điểm căn bản của giáo lý mà Đức Phật đã để lại cho nhân loại. Đó là Tứ Diệu Đế, Bát Chính Đạo tức con đường thoát khổ, Quy Luật Vô Thường, Lý Duyên Khởi và sự hiện thực của Vô Ngã.

 

Chủ đề của bài này là cái ta và sự liên hệ giữa cái ta và đau khổ. Hai điểm này thường không được xếp cùng với nhau, nhưng chúng tôi sẽ trình bày sự hình thành của cái ta, và song song là sự hình thành của khổ. Trong bài này chúng tôi đã bắt buộc phải dùng ngôn ngữ, tuy chúng tôi hiểu rằng con đường mà chúng ta phải noi theo để khám phá ra sự thực phải vượt ra ngoài phạm vi của ngôn ngữ và phải được chứng nghiệm.

 

Cái ta phàm phu được hình thành qua các giao tế xã hội mà ta có từ lúc sinh ra, cộng với tự ngã mà chúng ta mang theo từ các kiếp trước. Do đó cái ta được sinh ra và có tính chất vô thường, nó cũng là một hiện tượng thế gian lúc nào cũng thay đổi và huyễn hóa. Còn tự ngã được hình thành qua hành động và thuộc di sản nghiệp mà chúng ta mang theo từ đời này sang đời khác. Cái ta và tự ngã hợp thành ý niệm của ta về ta, và cách chúng ta kinh nghiệm cuộc đời này ra sao. Cuộc sống của ta trong cuộc đời này và các cuộc đời trước gặp nhiều thách đố, trở ngại và giới hạn khiến ta không được những gì mong muốn, do đó gây nên bất mãn, bất toại nguyện, không hạnh phúc v.v., đó là những gì được gọi chung là khổ. Khổ do đó có liên hệ với cái ta phàm phu và tự ngã, nó cũng không thường hằng và không nội tại trong chân tánh của chúng ta. Khi chúng ta nhận ra điều này, ta có thể rũ bỏ các trói buộc của cái ta và tự ngã để thoát khổ. 26 thế kỷ về trước, Đức Phật đã dạy chúng ta làm sao đạt được điều này.

  

CÁI TA LÀ GÌ, KHÁI NIỆM VỀ TA

 

Cái “Ta phàm phu” có thể gọi một cách chính xác hơn là “khái niệm về ta”. Nó là con người mà chúng ta nghĩ hay cảm nhận ta là trong cuộc đời này, dựa trên những kinh nghiệm giao tế với những người ta liên hệ, tức là qua các mối tương quan xã hội. Đây là một tiến trình khởi sự lúc sinh ra và tiếp nối suốt cuộc đời. Khái niệm về ta bắt đầu như tờ giấy trắng khi ta sinh ra. Đứa trẻ khi sinh ra không cảm thấy là nó riêng biệt với bà mẹ. Nhưng không lâu sau, nó bắt đầu nhận ra là nó riêng biệt và các nhu cầu của nó không được đáp ứng một cách tự động. Nó cảm thấy đói và khóc lên để được cho ăn. Kinh nghiệm đói là một sự khổ, một cảm nhận thiếu thốn, đòi hỏi, bất toại nguyện với tình cảnh hiện tại. Nếu cơn đói được đáp ứng bởi một bà mẹ hay người nuôi nhiều chăm chú và thương yêu hoặc bởi một bà mẹ hay người nuôi không chăm chú và bất mãn, thì đứa trẻ biết là nó được thương và do đó xứng đáng được thương hay không được thương và do đó không đáng được thương. Ngay khi còn là một trẻ sơ sinh, ta đã bắt đầu có khái niệm ta là ai, như một con người biệt lập sống trong thế giới này. Cảm nhận ta là ai ảnh hưởng cách chúng ta liên hệ với người khác, hoặc với lòng thương yêu hoặc với sự bất mãn. Điều này lại ảnh hưởng cách người khác đối xử với ta, và từ đó tiến trình dai dẳng thiết lập khái niệm về ta bắt đầu.

 

Mỗi người mà ta tiếp xúc cho ta một cảm nhận mới về cá nhân của ta dựa trên cách họ giao tế với ta. Do đó, cái “ta” thay đổi và thực sự chỉ là một ý hay một khái niệm ta thực sự là ai, vì nó dựa trên những gì ta cảm nhận về thái độ của người khác đối với ta. Ông George Herbert Mead dùng chữ tiếng Anh “me” để gọi cái nhìn khách quan này về ta. Đôi khi ta cảm thấy cách người khác đối xử với ta không khế hợp với quan niệm của ta về ta, và do đó ta chối bỏ hay chống trả không chấp nhận. Phản ứng chối bỏ hay chấp nhận cách mà người khác nhìn ta (tức là cái “me” tiếng Anh) là khía cạnh chủ quan của cái ta, cũng có thể gọi là cái “I” (tiếng Anh). Khi còn là trẻ thơ, ta chấp nhận một cách tự động và có khi vô ý thức thái độ của người khác đối với ta. Khi được người khác thương yêu và chấp nhận thì ta cảm thấy thoải mái với chính mình và nghĩ là mình xứng đáng được sự thương yêu và chấp nhận kia. Ngược lại, khi không được người khác thương yêu hay bị chối bỏ thì ta nghĩ là không xứng đáng hay thiếu xót gì đó hay bị hư hỏng gì đó. Khi chúng ta lớn hơn, ta (tức là cái “I” tiếng Anh) đáp lại cái nhìn của người khác bằng cách chấp nhận hay chối bỏ. Tổng số các giao tế này tích tụ lại thành một ý hay khái niệm ta là ai, ta có khả năng gì, ta xứng đáng ra sao, người khác nhìn ta như thế nào, và ta nhìn ta như thế nào. Khái niệm này luôn luôn thay đổi từ lúc sơ sinh cho tới khi già nua. Khái niệm về ta này có tính chất vô thường và chỉ hiện hữu trong tâm, ký ức và xúc cảm của ta như là cái nhìn của ta về chính ta và về người khác. Nó cho ta biết là thế giới bên ngoài thân thiện hay nguy hiểm, và ta phải liên hệ và đối phó với nó như thế nào. Khái niệm về ta liên hệ đến kinh nghiệm sống của ta trong cuộc đời này, tuy rằng Đức Phật cũng có dạy là ta cũng có kinh nghiệm sống nhiều đời trong quá khứ.

 

Cái “ta phàm phu” là sản phẩm luôn thay đổi của những giao tế của ta với người khác trong những vai trò mà ta đóng trong những nhóm mà ta tham gia trong cuộc đời này. Nhóm đầu tiên là cha mẹ chúng ta, và vai trò của ta trong đó là con sơ sinh. Khi chúng ta biết là ta có anh, chị, em thì ta có thêm một vai trò nữa là anh-chị-em. Lúc đó, cái ta bao gồm thêm các giao tế với những cá nhân khác trong gia đình và cách ta diễn dịch các giao tế này trong tâm ta, và từ đó nảy sinh một ý niệm phức tạp hơn về ta là ai. Ý niệm ta là ai này sau đó trở nên yếu đi khi ta bắt đầu giao tế với bạn bè, các học sinh khác và thầy cô trong trường. Khi chúng ta lớn hơn, ta tham gia vào nhiều nhóm khác và ta đóng nhiều vai trò khác nữa, do đó sự phức tạp của khái niệm về ta tăng thêm. Có nhóm có nhiều ảnh hưởng trên khái niệm về ta hơn những nhóm khác, vì chúng ta tham gia trong đó tích cực hơn. Có nhóm, tỷ dụ như gia đình, có tính cách thường hằng hơn nhóm khác, tỷ dụ như khi ta chỉ là một người mua hàng trong một tiệm bán thưc phẩm. Đương nhiên là các nhóm thường hằng hơn và quan trọng hơn có ảnh hưởng sâu đậm hơn trên khái niệm về ta.

 

NHỮNG VAI TRÒ MÀ CHÚNG TA ĐÓNG TRONG MỘT ĐỜI NGƯỜI

Vai Trò Trong Đời Người

GHI CHÚ: Các vai trò quan trọng ở mỗi lứa tuổi được viết với chữ cái. Một người có thể có thêm nhiều vai trò khác. Có những vai trò quan trọng, có những vai trò chỉ ngắn hạn, tùy lứa tuổi. Mỗi cá nhân có một số vai trò cá biệt ở mỗi lứa tuổi. Những gì chúng tôi ghi trên đây là những vai trò thông thường nhất.

 

Chúng ta mang theo khái niệm về ta khi giao tế trong mỗi nhóm, do đó có cảm nhận cái ta này là thực mà ít khi nhận ra rằng nó chỉ là một tập hợp luôn luôn thay đổi của những giao tế mà ta kinh nghiệm khi ta đóng các vai trò ở một thời điểm nào đó. Các vai trò này thay đổi luôn luôn, chúng nhiều hơn hay ít đi tùy giai đọan trong cuộc đời, ít ở đầu đời và cuối đời và nhiều vào khoảng giữa. Khi chúng ta bắt đầu trưởng thành và bước vào tuổi trung niên, thì số vai trò lớn nhất và phức tạp nhất. Mức độ phức tạp của các giao tế của ta trong các nhóm ta tham gia quả thực là một điều đáng kinh ngạc. Do đó chúng ta không lấy làm lạ nếu đôi khi có những xung đột bên ngoài hay bên trong nội tâm xảy ra, bởi lẽ các nhóm mà ta tham gia chờ đợi những điều khác nhau nơi các thành viên. Sự chờ đợi này có khi được nói ra rõ ràng nhưng cũng có khi chỉ hiểu ngầm, và cũng có thể mâu thuẫn lẫn nhau. Các chờ đợi này thay đổi theo thời gian và theo các tình huống mà nhóm gặp phải. Do đó, thay đổi luôn luôn có mặt, và điều này có thể thách đố ta hoặc làm ta khó chịu. Ta kinh nghiệm những thăng trầm trong quan hệ của ta với các nhóm mà ta tham gia. Phật pháp nói về khổ, là một điều mà chúng tôi sẽ khai triển thêm ở phần sau bài này. Ở đây chúng ta có thể nhận ra là vai trò mà ta đóng trong những nhóm mà ta tham gia trong đời tạo nên nơi ta một khái niệm về ta nhưng cũng là nguồn gốc của không ít điều không thoải mái, bất toại nguyện, không hạnh phúc mà ta có thể gọi chung là khổ. Tuy những giao tế này đôi lúc có mang lại chút ít hạnh phúc và toại nguyện, nhưng chúng luôn luôn thay đổi và do đó hạnh phúc có thể biến đi và bị thay thế bởi buồn khổ và thất vọng.

             

TỰ NGÃ

 

Phật pháp định nghĩa “tự ngã” khác với nhà phân tâm học nổi danh Sigmund Freud. Ông Freud cho rằng tự ngã (ego) là trung gian giữa phần thấp con người là bản năng (id) và một phần cao thượng là lương tâm (conscience), giúp ta cân bằng hai phần tâm (mind) và hồn (psyche). Gần đây hơn các nhà tâm lý học coi tự ngã là một dụng cụ quan trọng giúp con người đáp ứng với hoàn cảnh xã hội. Họ cho rằng những người có tự ngã mạnh và tốt có “trọng điểm quyền lực ở bên trong”, tức là có tinh thần tự lập và tự chủ, và có quan hệ tốt với chính mình. Trong khi đó, người có tự ngã yếu dễ bị người khác ảnh hưởng và lung lay vì họ có “trọng điểm quyền lực ở bên ngoài”, tức là họ có thể quá tuân phục quy ước xã hội, hoặc ngược lại họ bất chấp quy luật xã hội và có thể theo con đường phạm pháp. Có nhà tâm lý học cũng cho rằng những người có hành động phản xã hội thường là những người có tự ngã yếu hoặc thiếu tinh thần tự trọng. Do đó họ cho rằng trẻ em nên được khích lệ và nên có nhiều giao tế với người khác để chúng phát triển tinh thần tự hào và tự tin và từ đó tinh thần tự trọng (tức là có một hình ảnh tốt về tự ngã của mình), và một tự ngã mạnh và chắc chắn.

 

Trong khi đó, Phật Giáo thì coi tự ngã là thuộc tâm phàm phu và có nhiều điểm tương đồng với cái mà chúng tôi gọi là “cái ta” ở phần trên. Tư Ngã là khía cạnh chủ quan của cái ta (“I” tiếng Anh). Nó bao gồm nghiệp mà ta mang theo từ các kiếp trước và ảnh hưởng cách ta cảm nhận và cư xử trong kiếp này. Đó là lý do vì sao có người có hành vi không khế hợp với cách họ được nuôi nấng hay nếp sống của họ trong kiếp này. Nghiệp ảnh hưởng cảm nhận và hành vi của ta, và ảnh hưởng này đa phần là vô thức, vì ta không biết tại sao ta lại cảm nhận một cách nào đó về sự việc, hoặc tại sao ta lại cảm nhận hay phản ứng một cách nào đó đối với chính ta và với người khác. Tự ngã tạo tinh thần cách biệt và khác biệt giữa ta và người khác. Đó là lý do vì sao tự ngã khiến ta cảm thấy tự hào và độc nhất, và tại sao nó muốn bảo vệ ta chống lại những thái độ và hành động mà nó không thích hay cho là đe dọa. Nó khởi lên sự tức giận để bảo vệ cái ta (cái ta khách quan) khi ta sợ hãi; nó khởi lên lòng tham khi cảm thấy có nhu cầu; nó khởi lên hành động và xúc cảm để đền bù cảm nhận thua kém, hoặc thiếu xót những gì được coi là cần (tức là những gì ta dính mắc). Do đó, tự ngã là thủ phạm của nhiều khổ đau trên đời này, khổ do dính mắc vào thói quen cũ (kể cả các thói quen từ các kiếp trước), khổ vì sợ hãi và lo lắng cho tương lai, khổ vì ước mơ không thành, khổ vì những thất vọng, hay khổ vì hối hận là trong quá khứ ta đã có hành vi sa đọa, bất thiện hay phá hoại. Dính mắc vào hiện tượng thế gian là lý do tại sao chúng ta tiếp tục luân hồi sinh tử. Trong phần còn lại của bài này khi chúng tôi nói về cái “ta”, chúng tôi gom chung cả hai ý niệm “khái niệm về ta” và “tự ngã”.  

  

Sự trống rỗng của cái TA

 

Vì cái ta được hình thành do nhiều nhân duyên, nó thay đổi và bị diệt khi các nhân duyên thay đổi hay chấm dứt. Đây là đề tài của bài giảng của Đức Phật về quy luật nhân quả, mà Thiền Sư Thích Thông Triệt đã giải thích như sau:

 

“Lý Duyên Khởi trở nên một phần cốt lõi trong giáo lý của Đức Phật và xuất hiện trong nhiều bài kinh dưới tên Mười Hai Duyên Khởi hay Mười Hai Nhân Duyên. Đức Phật tóm tắt qua bốn câu:”

“Cái này có cái kia có

Cái này sinh, cái kia sinh

Cái này không cái kia không

Cái nài diệt, cái kia diệt”

 

Do đó cái ta chỉ là một khái niệm và không có hiện hữu riêng biệt. Cũng có nghĩa là nó rỗng không, huyễn hóa và vô thường. Cái ta là sản phẩm của tự ngã và tâm phàm phu. Nếu quý vị hỏi một người mô tả họ là ai ở một thời điểm nào đó, thì vị đó sẽ mô tả một cách khác hơn là ở một thời điểm khác.  Vậy có một “cái ta thường hằng và chân thực” không? Trong Phật Giáo Phát Triển, hệ Bát Nhã gọi là “Tự Ngã Hoàn Toàn Thanh Tịnh”, Ngài Long Thọ (thế kỷ thứ ba) gọi là Chân Ngã, và Ngài Thế Thân (thế kỷ thứ năm) gọi là Phật Tánh (Buddhata).  

 

Thiền Sư Thích Thông Triệt cũng giải thích là sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài quyết định đi giáo hóa. Bài pháp đầu tiên mà Ngài giảng là bài Tứ Diệu Đế (khổ đế, tập đế , diệt đế, và đạo đế tức là Bát Chính Đạo). Bài kinh này bắt đầu việc  chuyển bánh xe Chánh Pháp. “Đức Phật giảng bài kinh Vô Ngã Tướng sau khi thành đạo. Ngài giảng cho nhóm năm vị tu khổ hạnh do ngài Kiều Trần Như lãnh đạo mà Đức Phật đã cùng tu chung khi trước. Bài kinh Vô Ngã Tướng sau này được xếp cùng với bài kinh Tứ Diệu Đế thành bài kinh Chuyển Pháp Luân, được xếp vào Tương Ưng Bộ số 22:59. Sau được nghe giảng bài kinh Vô Ngã Tướng, năm vị tu khổ hạnh chứng ngộ và đắc quả A La Hán”.

  

Tâm phàm phu và cái ta

 

Khái niệm về ta tùy thuộc vào cách ta nghĩ và cảm nhận ta là ai. Sự suy nghĩ dùng khái niệm để mô tả vật, cảm xúc v.v nhưng khái niệm chỉ là những biểu tượng không có hiện hữu thực sự. Chữ dùng để mô tả cái ta không phải chính thực là cái gì ta là, chúng chỉ là những biểu tượng hay dấu hiệu mà thôi. Do đó cách chúng ta mô tả cái ta chỉ hiện hữu trong tâm ta mà thôi. Cảm xúc và cảm nhận ta là ai cũng vậy, chúng chỉ hiện hữu trong tâm ta dù chúng có thể khởi lên do cảm nhận thân nóng, lạnh, hay tự hào, nhục nhã v.v. Do đó khái niệm về ta dính liền với sự suy nghĩ và cảm xúc ta là ai. Tâm suy nghĩ đó cũng đầy rẫy kỷ niệm về kinh nghiệm cũ khiến ta nghĩ ta là ai. Kinh nghiệm này có thể tích cực khi chúng cho ta một cảm giác thoải mái, nhưng cũng có thể là kinh nghiệm tiêu cực. Những kỷ niệm về quá khứ này xen lẫn với nghiệp từ những kiếp trước tạo ảnh hưởng vô thức trên xúc cảm và cảm nhận ta là ai. Tầm quan trọng của kinh nghiệm quá khứ, cộng với kinh nghiệm trong kiếp hiện tại, là ở nơi chúng khiến ta cảm nhận, suy nghĩ và hành động theo một lối nào đó trong cuộc đời này, và do đó, lại tích lũy thêm nghiệp, tốt cũng như xấu. Trong phần sau của bài này, chúng tôi sẽ trình bày làm cách nào để ngăn chặn hoặc tiêu trừ được nghiệp tích lũy từ kiếp trước và khuynh hướng tích lũy thêm nghiệp mới trong kiếp này. Đây cũng là con đường thoát khổ mà Đức Phật đã đề ra.

          

Khổ là gì?

 

Khổ hay dukka là cảm nhận bất toại nguyện hoặc không thoải mái. Khổ không nhất thiết là một sự đau đớn lớn, tuy đau đớn lớn cũng là khổ, vì khổ cũng là sự không thoải mái nơi tinh thần hay thân xác. Khổ có thể là lòng mong muốn ở gần một người hay mong muốn được một cái gì mà hiện nay ta không có. Nó cũng là sự không ưng ý với tình trạng hiện tại, tỷ dụ như khi ta nôn nóng đợi cái gì tốt hơn, hay muốn được cái gì nhiều hơn, hoặc muốn có cái gì ít hơn. Nó cũng là lòng mong muốn không bị đau đớn thân thể hay bị dằn vặt tinh thần. Nó cũng là cảm giác mơ hồ về cái gì không ưng ý với tình cảnh hiện tại. Nó cũng là lòng lo lắng sẽ mất đi một cái gì ta đang có nhưng sợ sẽ mất đi trong tương lai. Nó cũng là cảm xúc giận giữ hay tức tối. Nó cũng là kỷ niệm không vui. Ngay cả sukka là hạnh phúc cũng có thể đưa tới dukka là khổ đau, vì khi ta đang hạnh phúc thì lại lo lắng là có lúc ta sẽ bị đau buồn. Và khi ta buồn thì ta lại mong là ta sẽ được hạnh phúc.  Do đó, khổ dính liền với thế giới nhị nguyên trong đó cứ hết thăng rồi lại trầm rồi lại thăng, hết vui lại buồn. Nhiều đau khổ của ta đến từ các vai trò mà ta đóng khi giao tế với người khác. Ta dính mắc vào vật, người và ý tưởng và thể hiện sự dính mắc này qua cảm xúc giận giữ, xung đột, tranh giành, nóng nảy v.v  Đức Phật dạy rằng khổ là một sự thực tuyệt đối, con người ai cũng khổ. Khổ theo ta suốt đời, chúng ta ai rồi cũng bệnh và chết. Một điều đáng chú ý là đau khổ đến với ta khi ta thiết lập khái niệm về ta và tự ngã. Trong một phần sau của bài này chúng tôi sẽ nói về quan niệm của Đức Phật về khổ và làm sao diệt khổ.

 

Vô thường và khổ

 

Sự thay đổi cũng là một nguyên do đem lại khổ. Chúng ta có thể không toại nguyện với hoàn cảnh hiện tại, hoặc đang toại nguyện nhưng lại lo là hoàn cảnh sẽ thay đổi và trở nên tệ hơn. Mọi hiện tượng thế gian đều chịu luật vô thường. Quy luật vô thường được Đức Phật coi như một quy luật bất biến và là một trong ba đặc tính chung của mọi hiện tượng thế gian là vô thường, khổ, và vô ngã. Ta kinh nghiệm vô thường khi ta bị bệnh, già hoặc chết. Chúng ta ai ai cũng thay đổi, ngay cả các tế bào trong cơ thể cũng thay đổi luôn luôn. Hoàn cảnh sống của chúng ta thay đổi luôn luôn, con người thay đổi ý, ta cũng quan sát được sự thay đổi trong trời đất qua sự vận hành của hành tinh và mùa màng. Ngay cả những gì có vẻ thường hằng như tảng đá hay nhà cửa chắc chắn cũng chịu sự thoái hóa và hủy diệt. Tuy thay đổi không nhất thiết tạo đau khổ, nhưng thay đổi có thể là một nguyên do đem lại đau khổ. Chúng ta đau buồn khi thấy cơ thể thay đổi khi ta già đi, ta đau đớn khi có sự thay đổi trong gia đình, như khi một người thân qua đời, hay một người trẻ rời nhà để đi vào trường đại học. Có khi chúng ta lo lắng là hoàn cảnh tươi đẹp mà ta đang có sẽ thay đổi một cách bất lợi trong tương lai. Nhưng mặt khác chúng ta cũng có thể nôn nóng mong chờ ngày mà hoàn cảnh bất thuận lợi hiện tại của ta sẽ thay đổi. Chúng ta mong được giàu có, nổi tiếng và có thân hình đẹp đẽ và mong cuộc đời của ta sẽ thay đổi để có được những điều mà ta cho là tốt lành kia. Và khi chúng ta có được những gì ta mong muốn thì ta lại lo lắng sẽ mất chúng đi. Ngay cả khái niệm ta là ai (cái ta) cũng thay đổi và đem lại đau khổ vì chúng ta không thích những thay đổi đó. Quan hệ của chúng ta với người khác thay đổi khi ta có những thay đổi trong gia đình, bằng hữu, và đồng nghiệp trong cuộc đời. Chúng ta lo sợ ngày mà người chúng ta thân yêu không còn nữa, hoặc ta nhớ những người bạn đã ra đi. Do đó quy luật vô thường ảnh hưởng suốt đời ta. Quy luật vô thường ảnh hưởng xác thân ta qua năm giác quan, nhưng quan trọng hơn là nó cũng ảnh hưởng đến tâm chúng ta. Tâm chúng ta lúc nào cũng thay đổi. Thói quen nói thầm trong não đem lại nhiều đau khổ vì chúng ta cứ nhớ lại những kỷ niệm không vui trong quá khứ và lo ngai những gì có thể xảy ra trong tương lai. Những ý tưởng này có thể chiếm đa số những gì ta suy tưởng trong một ngày và do đó mang lại nhiều bất toại nguyện, lo lắng, và ngay cả bệnh trầm cảm và mặc cảm tội lỗi. Chúng ta nhận ra là các hoạt động đó của tâm, thể hiện qua lời nói thầm, tạo ra nhiều căng thẳng có thể đưa đến bệnh tâm thể. Nó cũng khiến tâm ta không được an lạc và tĩnh lặng. Chúng tôi sẽ bàn thêm ở phần dưới của bài cách làm chủ sự được sự nói thầm trong não. 

 

Đau khổ và phát triển tâm linh

 

Mặc dù đau khổ không thoải mái và có thể đau đớn, nhưng nó cũng là chất xúc tác để phát triển tâm linh. Ta học hỏi từ những lỗi lầm của ta, từ những đau khổ do lỗi lầm của ta tạo nên, và ta thay đổi cách ta suy nghĩ và hành động để cuộc đời khá hơn. Đau khổ không những là một cách để trả nghiệp, nó cũng giúp ta học hỏi để tiến bộ, trở nên từ bi hơn, ít chê bai hơn, rộng lượng hơn, tâm linh tỉnh ngộ hơn.

 

Ta bắt đầu hiểu rằng ta phải vượt qua những căn bệnh mà ta có trong tâm, và tất cả mọi người, đều cùng chung một cảnh ngộ. Ta không thể kinh thường những người đang đau khổ và có tâm bệnh, vì ta cũng giống như ai khác cần học hỏi từ những đau khổ do tâm bệnh gây nên.

 

Ta có thể không nhận ra rằng khổ là cái gì của riêng ta, vì chính ta mang lại đau khổ cho riêng ta tùy theo các nhu cầu của ta. Người khác không tạo đau khổ cho ta. Ta cần phải học một số bài học tâm linh, và ta hoặc cố ý hoặc vô tình tạo nên các điều kiện đem lại cho ta đau khổ để ta học được những điều ta cần học. Khi ta đã sẵn sàng học xong bài học thì đau khổ sẽ dứt đi, bằng không ta cứ phải học đi học lại, cho tới khi nào ta hiểu rõ mới thôi.

 

Với quan niệm này về khổ, ta hiểu rằng khổ là một tiến trình tự nhiên mà ai cũng kinh nghiệm khi sống trong cuộc đời này. Ai cũng kinh nghiệm khổ. Ta không cần bận tâm hay lo lắng là khổ có sẽ đến với ta không, vì nó sẽ đến khi “ta sẵn sàng”. Nếu ta chưa học xong bài học thì ta sẽ có đầy đủ thời giờ để học hoài cho đến khi ta hiểu rõ. Đây là một tiến trình thay đổi tâm trong đó ta hoàn toàn tỉnh ngộ và thấy rõ bản tính của ta và của tất cả chúng sinh là gì.

 

Trong phần sau đây chúng tôi sẽ trình bày vì sao khi ngũ quan và tâm tiếp xúc ngoại cảnh lại đem lại khổ đau.

 

Ngũ uẩn và khổ

 

Bát Nhã Tâm Kinh mô tả ngũ uẩn là sắc thọ tưởng hành thức. Sắc là phần thân thể gồm lục căn, còn tâm tạo nên thọ là cảm nhận và cảm giác, và tưởng, hành và thức. Qua thân và tâm chúng ta tiếp xúc với môi trường nơi ta sống. Sự tiếp xúc này cũng được gọi là “dính mắc” hay “ái dục”. Khi ta sinh ra, thân và tâm dần dần tạo nên khái niệm về ta. Quan niệm chủ quan về ta (chữ “I” trong Anh Văn) hay tự ngã được thành lập qua ngũ uẩn cho đến khi trở nên một cái ta có đủ khả năng giúp ta sống trong đời. Tự ngã là một cái gì quan trọng giúp ta sống trong đời, nhưng ở trong mỗi uẩn, nó cũng kết nối ta với ngoại cảnh qua dính mắc và ái dục. Dính mắc và ái dục bắt đầu từ lúc sinh ra và đem lại cho ta vừa toại nguyện vừa bất toại nguyện (hạnh phúc và buồn khổ). Nói cách khác là đem lại “khổ”. Ngay cả những gì ta cho là toại nguyện rốt cuộc rồi cũng chấm dứt và đem lại bất toại nguyện. Khi ta hạnh phúc, ta biết rằng khi hạnh phúc chấm dứt mình sẽ buồn khổ. Dính mắc và ái dục mà chúng ta tích tụ qua ngũ uẩn là nguồn gốc khổ đau, và cũng là nguyên do tạo luân hồi sinh tử, như Bát Nhã Tâm Kinh đã dạy.

 

Thiền Sư Thích Thông Triệt mô tả như sau mối tương quan giữa ngũ uẩn, cái ta và khổ:

 

“Uẩn tiếng Pāli là khandha và tiếng sanskrit là skandha. Con người gồm có năm uẩn là thân (gọi là “sắc”) và bốn uẩn thuộc về tâm là thọ, tưởng, hành, thức. Tiềm ẩn dước năm uẩn là năng lượng của tự ngã và lậu hoặc khiến con người bị thu hút và dính mắc vào hiện tượng thế gian. Sư thu hút và dính mắc này tạo nên đau khổ và luân hồi sinh tử. Có một cách để cắt đứt vòng luân hồi sanh tử. Khi ngũ uẩn yên lặng khi tiếp xúc với đối tượng ngoại trần và nội trần, khi không có dính mắc bởi tự ngã, lúc đó ta sống trong tánh giác hay là chân tâm. Tâm này định tĩnh, an nhiên và hân hoan. Nó khách quan, vô ngã, có từ bi và trí huệ”

 

Lậu hoặc mà Thiền Sư Thích Thông Triệt đề cập đến là những thiếu sót của tâm và tâm bệnh khởi lên từ tự ngã và trói buộc ta vào cuộc đời và vòng luân hồi sinh tử.

 

“Mười Hai Nhân Duyên là mười hai điều kiện hợp lại thành một vòng xích nhân duyên (tiếng Pāli là nidāna). Nó là mười hai điều kiện hay mười hai mắt xích tạo nên đau khổ và luân hồi sinh tử.”

 

Một luận gia Phật Giáo sống vào thế kỷ thứ năm sau công nguyên là Ngài Phật Âm (tiếng Sanskrit là Buddhaghoṣa) đã chia mười hai mắt xích nhân duyên ra thành đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Vô Minh và Hành là những nhân duyên ảnh hưởng cuộc đời hiện tại, do đó được xếp vào đời quá khứ. Tám nhân duyên sau đó, từ Thức đến Hữu, thuộc về đời hiện tại. Hữu là năng lượng đưa đến tái sinh, đó là đời tương lai gồm Sinh và Lão Tử.”

 

Mười hai nhân duyên họp thành một vòng khép kín, từ Vô Minh đến Sinh và Lão Tử. Mười hai nhân duyên luân chuyển không ngừng, tạo nên chuỗi sinh, khổ, chết và tái sinh là cuộc sống con người. Năng lực đằng sau các nhân duyên là năng lực biến dịch, cũng được gọi là Biến Dịch Tánh là một chân tánh hiện tượng thế gian mà Đức Phật đã nhận ra khi thành đạo. Quy luật biến dịch ảnh hưởng mọi hiện tượng thế gian trong mỗi giây phút.”

 

“Muốn chấm dứt khổ đau và luân hồi sinh tử, ta cần thực hành để cắt một trong những mắt xích. Khi một mắt xích bị cắt thì cả vòng nhân duyên không còn nữa”.

 

Đồ hình sau đây mô tả vòng Mười Hai Nhân Duyên.

 

Vòng 12 Nhân Duyên

Đồ hình trên đây cho thấy là ta kinh nghiệm thế giới qua ngũ uẩn, tạo nên cái ta phàm phu và tự ngã, từ đó đưa đến Hữu khiến ta đầu thai trở lại trong tương lai. Tiến trình này lập đi lập lại cho đến khi vòng xích bị cắt đứt. Điều này có thể được thực hiện như sau: 

 

Khổ đau chấm dứt khi ta nhận ra rằng các uẩn đều rỗng không, chúng không phải là cái ta thực sự như ta thường nghĩ. Các uẩn nối kết và trói buộc ta vào cuộc đời nhưng có thể bị cắt đứt khi ta có trí huệ (prajna) và nhận ra rằng các uẩn (mà ta dính mắc) chỉ huyễn hóa và tạm bợ. Chúng giống như một cầu vồng mà ta có thể quan sát trong một thời gian ngắn nhưng không thể nắm bắt được. Khi chúng ta nhận ra rằng ta vốn đã có sẵn một chân ngã khác với tự ngã (vốn được xây dựng trên các uẩn), thì ta vượt qua vòng luân hồi sinh tử và chấm dứt khổ đau. Các uẩn tan biến khi ta thực hành niệm biết không lời. Chúng tôi sẽ nói thêm về điểm này trong phần sau của bài này.

 

Cái ta liên hệ ra sao với khổ?

 

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, cái ta chủ quan (tức là tự ngã) được hình thành qua ngũ uẩn. Các uẩn tạo nên dính mắc, và do đó khổ đau. Mỗi người tự mình tạo nên đau khổ cho chính mình, bắt nguồn từ trong tâm. Dù cũng có những cái khổ đến cho cả một nhóm người, nhưng mỗi người trong nhóm chỉ kinh nghiệm nỗi khổ của riêng mình. Nói chung thì khổ được kinh nghiệm như một sự kiện cá nhân, nó độc nhất cho mỗi người, nhưng thường thì nỗi đau khổ của ta ảnh hưởng trên người khác và trở thành nỗi đau khổ của họ.  Chúng ta có thể thấy điều này nơi những khó khăn, xung đột, chiến tranh xảy ra đầy rẫy trên thế giới. Có khi cả một xã hội, cả một thời đại có thể coi như chịu khổ đau triền miên.

 

Cái gì trong cái ta liên hệ đến khổ? Thứ nhất là phần tự ngã của cái ta (tức là chữ “I” trong Anh Ngữ) cho rằng chúng ta khác biệt với người khác, và sự cách biệt này khiến ta muốn nối kết hay giao tế với xã hội vì ta cảm thấy cô đơn, hoặc ta muốn ở gần người ta thương v.v. Sau đó Tự Ngã muốn bảo vệ chống lại những gì nó coi là những tấn công từ bên ngoài, tỷ dụ như lời phỉ báng, than phiền, hay ngay cả sự bất nhã. Tự ngã coi những thứ này như khó chịu hay đe dọa, do đó ta cảm nhận chúng là khổ. Tự ngã cũng muốn xây dựng tinh thần tự trọng bằng cách chứng tỏ là ta khác hơn người khác, tốt hơn, giỏi hơn, khôn ngoan hơn, giàu có hơn, đẹp đẽ hơn v.v  Lòng “mong muốn” này khiến chúng ta không thỏa mãn với hiện thân và hiện tình của mình, đó cũng là một nguồn khổ đau vì không thỏa mãn với những gì ta đang là và đang có trong hiện tại.

 

Buông bỏ đau khổ


Khi ta kinh nghiệm cái biết không có suy nghĩ và cái ta hòa nhập vào đại thể thì trạng thái đó được gọi là “vô tâm”. Trong quyển sách tựa đề “Vô Tâm”, ông D.T. Suzuki, đã trình bày trạng thái này một cách đầy đủ nhưng dễ hiểu. Vô Tâm là một trạng thái trống rỗng hay Śūnyatā trong đó không có cái ta biệt lập mà chỉ có sự cảm nhận thuộc vào một đại thể đồng nhất (tức là Chân Như). Đây chính là điều Đức Phật đã giảng khi Ngài mô tả chân tánh, hoặc Phật tánh, hoặc trạng thái giác ngộ. Đây là trạng thái hiện hữu ở một cảnh giới siêu vượt, chứ không phải là cảnh giới hữu hình mà ta kinh nghiêm khi sống trên cõi đời này. Vì không thể nào dùng lời để mô tả cảnh giới này nên cách duy nhất mà chúng ta biết được nó là qua kinh nghiệm trực tiếp. Kinh nghiệm trực tiếp này có thể có được khi ta thực hành về niệm biết. Khi ta lần lượt trải qua các trạng thái biết, ta từ từ nhận ra rằng khái niệm ta là huyễn hóa, và nó tan biến đi khi ta vượt qua cảnh giới của hình thể. Đương nhiên là cái ta hay tự ngã hay “I” (tiếng Anh) rất bền bỉ và muốn sống còn, do đó ta sẽ thấy là cần phải đấu tranh để tiêu trừ nó đi. Tuy thế, điều này sẽ bớt khó nhọc khi ta thực hành đều đặn và xây dựng cái biết, tỷ dụ như qua các cách thiền dùng niệm biết không lời.       

Thiền Sư Thích Thông Triệt giải thích vì sao sự nhận biết không lời giúp chúng ta đạt được huệ và do đó vượt qua được cái ta và tự ngã:

“Ta có thể đạt được Huệ bằng cách thiền về những chủ đề ngoài lý luận, và dùng nhận biết không lời để thể nhập các chủ đề siêu vượt như Chân Như, Không, Huyễn. Huệ được coi là tâm Phật trong đó không còn lậu hoặc. Huệ là cái biết không có suy nghĩ, không có phân biệt nhưng có trực giác và chức năng phân tích của tiềm năng giác ngộ. Ta không thể tới đó bằng cách phát huy ý thc đến mức tột cùng, mà chỉ tới được bằng cách phát triển tiềm năng giác ngộ, tức là Phật Tánh. Tiềm năng giác ngộ tiềm tàng trong sự nhận biết không lời. Cái biết của nó không có nhị nguyên, không có dính mắc, và không có khái niệm ta và tự ngã.”

 

Cái ta và sự nhận biết – Ai biết và biết cái gì?

 

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, lúc đầu khi ta kinh nghiệm sự nhận biết thì trong đó có cái ta vì ta quan sát những sự vật quanh ta. Chúng ta thấy ta ngăn cách với vật và người mà ta quan sát. Nếu ta thực tập thiền, thì ta có thể quan sát hơi thở, và các cảm nhận nơi thân thể hay ngoại cảnh như tiếng động, màu sắc, hình dáng, mùi v.v Lúc đầu ta “thấy” những sự vật trong ta và chung quanh ta như khác biệt với ta. Khi chúng ta thực tập nhận biết trong Thiền Tánh Không, ta tập quan sát mà không định danh các vật, cảm giác, tư tưởng mà ta quan sát, ta chỉ nhận biết chúng như ngoại vật. Ta cũng có thể nhận biết chính ta, tức là ta quan sát cái ta đang là nhân chứng và đang quan sát. Đương nhiên là ta quan sát các vật mà ta nhận biết ở giây phút ngay bây giờ, giống như ta đang xem một cuộn phim vậy. Ta chỉ nhìn mà không lượng giá, suy diễn, định danh hay suy nghĩ bất cứ điều gì về đối tượng ta quan sát. Chúng ta cũng không cố gắng nhớ những gì ta quan sát. Ta chỉ để các vật hiện lên trong vòng quan sát của ta, sinh hoạt rồi biến đi, mà không dán nhãn, phân tích, suy nghĩ hay ghi nhớ để có thể tìm lại trong tương lai. Do đó tâm ta yên lặng và kinh nghiệm quan sát của ta dính liền với hiện tại. 

Nhận biết và suy nghĩ

 

Khi chúng ta mới bắt đầu tiến trình nhận biết, ta nghĩ về đối tượng ta quan sát, tuy rằng ta không nói điều gì mà chỉ yên lặng nhìn, nghe, xúc chạm, ngửi hoặc nhớ lại quá khứ v.v., và ta cũng dán nhãn, lượng định và “quán sát” chúng. Nhưng một khi ta phát triển khả năng nhận biết của ta hơn thêm, thì ta bỏ đi sự dán nhãn, lượng định và quán sát, tức là ta không còn suy nghĩ gì về đối tượng nữa. Ta cứ để các ý tưởng của ta biến đi một cách tự nhiên, lặng lẽ mà không tìm cách giữ chúng lại (dính mắc). Bước qua giai đoạn sau đó nữa, ta tập cách ngăn ngừa niệm khởi bằng cách ra mệnh lệnh “Không Nói”. Kỹ thuật này được Thiền Sư Thích Thông Triệt mô tả cặn kẽ trong các bài viết về Thiền Tánh Không và các phương pháp thiền. Chúng ta tập quan sát một cách thụ động và nhận biết vật, người, và cảm nhận trong lúc ta tích cực quan sát. Ta quan sát những gì xảy ra bên trong và chung quanh chúng ta (trong vùng nhận biết của ta). Hành động của chúng ta chỉ là nhận biết và tỉnh thức. Thiền Sư Thích Thông Triệt gọi đây là sự nhận biết không lời. Tiến trình nhận biết không lời bắt đầu bằng cái biết có lời, như đã trình bày ở trên, và sau đó tiến sang sự nhận biết không lời về những cảm giác mà ta nhận được: nghe, thấy, xúc chạm. Bằng cách lập đi lập lại hai từ “Không Nói”, ta nghe chỉ biết nghe, thấy chỉ biết thấy, xúc chạm chỉ biết xúc chạm mà không có sự suy nghĩ, phân tích, lượng định, phân biệt trong tâm. Khi đó vùng nhận biết (tức là vùng tri giác tâm linh) của não bộ được kích động, đây là vùng của Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Xúc Chạm tức là Tánh Giác hay “Tâm Bậc Thánh”, khác với “Tâm Phàm Phu” phát xuất từ vùng tiền trán (vùng suy nghĩ). Tác động Tánh Giác qua kỹ thuật “Không Nói” giúp ta lưu trữ mã số “Không Nói” trong Tánh Nhận Thức Biết khi đó sẽ đóng cửa các cửa ngõ giác quan trong lúc thiền định. Khi đó ta đạt được Buddhita và bắt đầu khai mở trí huệ tâm linh tức là Phật tánh (Buddhata). Thiền Sư Thích Thông Triệt gọi tiến trình này là “Thiền Tánh Không.”

 

“Đúc Phật dạy rằng ta phải miên mật sống mỗi giây phút trong Nhận Biết Không Lời, ngày đêm không mệt mỏi để tỉnh thức sống mỗi giây phút trong bây giờ và ở đây. Muốn an trú trong Nhận Biết Không Lời, ta phải loại bỏ trong mỗi giây phút lời nói thầm cứ liên tục khởi lên trong não để truy tìm quá khứ, ước vọng tương lai và so sánh trong hiện tại. Nói thầm trong não là một quán tính ta đã huân tập từ khi sinh ra, do đó ta phải thực hành miên mật mới mong loại trừ được nó. Ngừng lời nói thầm trong não thì lập tức tánh giác hiển lộ, tâm ta lập tức ngừng lăng xăng chạy theo đối tượng và bóng đen tự ngã sẽ lui dần đi.”

 

Nhận biết tinh thuần – Không có chủ thể/khách thể, vô ngã

 

Khi khả năng và kỹ năng nhân chứng của chúng ta gia tăng, ta sẽ thấy là cái ta và tự ngã dần dần tan biến đi và khách thể cũng tan biến, tuy lúc nào ta cũng nhận biết những gì đang xảy ra, nhưng không có sự cách biệt giữa ta, tức chủ thể, và đối tượng của sự quan sát, tức là khách thể. Đây gọi là trạng thái Tâm Thuần Nhất. Trong đó chỉ có kinh nghiệm nhân chứng.  

 

Lúc đầu, ta vẫn có ý thức và dùng năm giác quan quan sát môi trường cùng các cảm nhận hay suy nghĩ khởi lên trong tâm, nhưng một khi ta tiến thêm thì tư tưởng, cảm xúc và cảm giác mờ dần đi. Đây là bước đầu kinh nghiệm cái ta phàm phu mất đi. Đây là tiến trình tẩy sạch các dính mắc trói buộc ta vào thế giới này và giữ ta trong vòng luân hồi sinh tử triền miên.

 

Cái ta chỉ là khái niệm trong tâm về “ta là ai” được hình thành qua những giao tế xã hội giữa ta và cha mẹ, anh chị em, bạn bè v.v trong tiến trình trưởng thành, từ lúc sơ sinh sang thuở thiếu niên, thanh niên và trung niên. Quan niệm ta là ai này (tức khái niệm về chính ta) càng ngày càng trở nên phức tạp hơn, phân định hơn và chắc chắn hơn, cho đến lúc ta tin là nó có thực. Hai ông Berger và Luchman quan niệm là hiện thực được hình thành qua liên hệ xã hội. Khi chúng ta hành xử như là một chuyện gì có thực thì trong tâm ta chuyện đó trở nên thực.

 

Theo giáo lý Đức Phật (Pāli: dhamma, Sanskrit: dharma), khái niệm về ta tùy thuộc vào các giao tế và sinh hoạt của ta, nền văn hóa nơi ta sống v.v. Nó không có hiện hữu riêng biệt. Cái ta chủ quan (chữ Anh Văn “I”) là tự ngã. Tự ngã lúc nào cũng muốn xây dựng và bảo vệ khái niệm về ta. Tự ngã đối phó với những gì nó cho là đe dọa khái niệm về ta, vì nó tin rằng đó chính là gì ta thực sự là. Đức Phật đã dạy là cái “vọng” ta đó chỉ có hiện hữu trong thế giới hiện tượng, tức là thế giới có hình tướng nơi chúng ta sống trong cuộc sống thế gian này. Cái ta thực không phải là một thực thể riêng biệt mà là một phần của một tổng thể lớn hơn là Chân Như, trong đó chúng ta đều là một thành phần. Lục Tổ Huệ Năng nói “kiến tánh thành Phật”. Ông Suzuki, khi giải thích pháp của Lục Tổ, đã viết rằng “Vô thức hay tự tánh trở nên có ý thức (nhận biết) về chính nó qua Huệ”.

 

Thêm nữa, khi chúng ta tiến triển trên con đường tâm linh, ta từ từ nhận ra sự liên đới của ta với người khác. Ta kinh nghiệm một cách có ý thức sự liên đới này trong đời sống hàng ngày. Do đó, khi ta tu tập và  tiến triển thêm trên con đường tâm linh, khi năng lượng nhận biết gia tăng, ta chứng ngộ chân tánh của ta. Phật Giáo gọi là Phật Tánh. Đây là kết quả của thiền và tu tập, là ta nhận biết chân tánh của mình, tức là Phật Tánh, vốn tiềm tàng trong ta. Śūnyatā có nghĩa là rỗng không và Thiền Tánh Không đưa ta đến sự chứng ngộ là cái ta và tất cả hiện tượng thế gian đều rỗng không, như Đức Phật và Thiền Sư Thích Thông Triệt đã dạy.

 

Khai mở hay khai triển khả năng và kỹ năng nhận biết dẫn ta xa hơn là chỉ quan sát mà không có khái niệm ta. Khi kỹ năng thiền của ta khai triển đến mức độ vượt qua sự nhận biết có ý thức, tức là khi thân và não bộ của ta vẫn nhận tín hiệu từ các giác quan như thấy, nghe, xúc chạm nhưng ta đã vượt qua trạng thái nhận biết có ý thức các tín hiệu này, lúc đó ta sẽ tới giai đoạn biết tối hậu (tức là trí huệ tâm linh), ta đạt trạng thái Không Định hay Chân Như Định và khai mở Phật Tánh (tức giác ngộ) và trí huệ tâm linh. Khi đó ta sẽ kinh nghiệm:

 

“trực giác, linh cảm, sáng tạo, sáng kiến và tâm từ, bi, hỷ, xả là căn bản của huệ. Đây là mục tiêu của Bát Chánh Đạo, là thoát khổ”.

 

Bản dịch Anh Ngữ của các sách của Thiền Sư Thích Thông Triệt: Thiền dưới ánh sáng khoa học, Thiền và kiến thức thời đại, và Tiến trình tu chứng và thành đạo của Đức Phật đã khai triển cặn kẽ tác dụng của nhận biết không lời và trí huệ trên thân, tâm và não bộ con người.

 

Vượt qua cái ta phàm phu dính vào hiện tượng thế gian

 

Khi chúng ta theo tiến trình đi từ cái biết có lời (tâm phàm phu) qua Tâm Bậc Thánh, và sau đó từ cái biết không lời sang tỉnh thức biết và nhận thức biết, thì ta vượt qua thế giới có hình tướng và kinh nghiệm một thế giới hay cảnh giới mới. Tuy thế, ta vẫn duy trì liên hệ với thế giới có hình tướng. Tức là dù ta có chứng ngộ Phật Tánh (chân ngã), ta vẫn duy trì khả năng kinh niệm hình tướng. Do đó, ta không có mất gì hết, ta chỉ tiếp xúc được chiều sâu vô tướng của thực tại. Ta có thể hiện hữu cùng một lúc với tâm phàm phu (vọng ta) và thế giới vô tâm (chân ngã). Vô tâm nghe có vẻ lạ tai, nhưng nó là một thế giới siêu vượt trong đó ta kinh nghiệm sự nhận biết tối hậu tức Tâm Phật, với vô lượng hiểu biết và vô lượng đức tánh từ bi, hỷ, xả là những gì quá hiếm hoi trong thế giới có hình tướng. Lúc đó, thế giới có hình tướng trở nên như một cơn mộng, và thế giới siêu vượt trở nên thực tại. 

 

Tiến trình nhận biết tới Tâm Phật

(Tiến trình rũ bỏ Vọng Ngã và kinh nghiệm Chân Ngã)

Tiến Trình Nhận Biết

Kinh nghiệm Tâm Bậc Thánh và ngộ TÂM PHẬT

 

Khi năng lực nhận biết của ta gia tăng, ta sẽ kinh nghiệm những lợi ích của sự tỉnh ngộ, như là ta để ý đến tâm linh nhiều hơn, bớt ham muốn vật chất, thêm từ bi, rộng lượng, thích thiền tập, và bớt nói/suy nghĩ. Khi ta khai mở tâm linh và chứng ngộ Phật Tánh, ta sẽ kinh nghiệm các lợi ích này thường hơn. Đức Phật đã sống trong trạng thái gíac ngộ này một cách liên tục trong lúc Ngài vẫn sống trên cõi đời này.

 

Vô ngã, hết khổ đau

 

Ở phần trên của bài này, chúng tôi đã trình bày tiến trình cái ta hình thành ra sao, tiến trình khổ đau hình thành ra sao, và hai điều này liên hệ với nhau ra sao. Mặc dù ta không thể nói đau khổ chỉ đơn thuần do cái ta tạo nên, nhưng nguồn gốc của nó là ở ngũ uẩn là các phần kết nối chúng ta đến thế giới này qua thân và tâm ta. Mặc dù ngũ uẩn quan trọng vì chúng giúp ta kinh nghiệm thế giới này, bản chất của chúng là rỗng không, tạm bợ và huyễn hóa giống như là các kinh nghiệm khác về cõi đời này, như lời Đức Phật đã dạy.  Khi chúng ta nhận biết (tức chứng ngộ) điều này, đau khổ của ta vơi đi và cái ta do tự ngã và tâm nhị nguyên làm chủ cũng vơi đi. Chúng ta cảm thấy liên đới hơn với người khác và với Tổng Thể (Chân Như) mà tất cả chúng ta ai nấy đều là một thành phần.

 

Vì sao kinh nghiệm cái biết không lời có thể thay đổi cuộc đời của ta khi ta còn sống trên thế giới này

 

Chúng ta khó hình dung làm sao có thể kinh nghiệm cái biết không lời một cách hoàn toàn khi chúng ta vẫn vật lộn với các đấu tranh hằng ngày. Ta có thể thực tập sinh hoạt tĩnh lặng này bất cứ lúc nào và ở đâu trong đời sống hàng ngày, và đó cũng là một cái cớ tốt để nghỉ ngơi một chút trong cuộc sống bận rộn. Khi chúng ta ăn, ta có thể “để ý” đến thức ăn và thôi không nói chuyện xã giao. Khi chúng ta lái xe, ta chỉ “để ý” đến việc lái xe thay vì nói chuyện điện thoại. Khi chúng ta đi bộ trên vỉa hè, ta có thể nhìn người khác, sinh hoạt chung quanh, nhà cửa, cây cối, bầu trời v.v. và để ý xem các vật đó như thế nào thay vì suy nghĩ về chúng, hay suy nghĩ về buổi hẹn sắp tới hay tiếc nuối một hành động nào đó đối với một người thân. Chúng ta sẽ học được cách quan sát mà không suy nghĩ. Đây là thầm nhận biết, hay nhận biết rỗng không (không lời nói).  

 

Phương pháp quan sát những việc qua lại quanh ta mà không xúc cảm, không xét đoán là một hành động giản dị nhưng rất hiệu lực giúp ta cảm nhận được những vật và kinh nghiệm kỳ diệu và đẹp đẽ nơi môi trường và trong cuộc sống của ta. Từ đó nảy sinh nơi ta niềm biết ơn những gì ta có. Ta bớt mong mỏi chuyện gì khác xảy ra trong đời ta. Khi ta thực sự thấy người khác như là họ đang là, thì ta có thể hiểu họ hơn và họ ngược lại cũng sẽ hiểu ta hơn.

 

Khi chúng ta chấp nhận hoàn cảnh hiện tại của ta như nó là thì ta không bị thúc đẩy phải có thay đổi lớn, ta cảm thấy biết ơn và thỏa mãn, tức là ta bớt khổ nếu nói theo từ ngữ Phật Giáo.  Chấp nhận những gì ta có, chấp nhận ta thực sự là ai, và hoàn cảnh hiện tại của ta trong đời, đưa ta đến một thế giới mới, ngay trong lúc ta đang sống trong cái thế giới cũ này. Ta cảm thấy sinh động hơn, nhiều năng lực hơn, có một thái độ mới. Ta sáng suốt và hữu hiệu trong việc làm vì ta giảm đi thói làm nhiều thứ một lúc, và bớt đi tính cạnh tranh và tham lam. Ta sẽ nhìn gia đình với con mắt khác, ta có thể chấp nhận mọi người trong gia đình như họ là, với tất cả các tật thói của họ. Và ta cũng sẽ chấp nhận chính ta như ta là, và biết rằng trong ta có tự tánh tâm linh thực sự của ta.

 

Thiền Sư Thích Thông Triệt có viết nhiều quyển sách mô tả tiến trình thành đạo của Đức Phật, cũng như là phương cách mà ta có thể dùng để noi theo Bát Chính Đạo để tẩy rửa tâm, rũ bỏ nghiệp và khai mở cái ta tiềm tàng và thực sự, tức là Phật Tánh. Mấu chốt là cái biết không lời. Trong chúng ta, có người thích khai triển sự nhận biết bằng cách tu thiền, và đây có lẽ là con đường tốt nhất, nhưng cũng có người cảm thấy mình không có thì giờ để ngồi thiền nhưng lại có thể ngừng lại nhiều khoảng ngắn trong ngày bận rộn để trở về với tĩnh lặng và nhận biết, và cũng có người thích tập nhận biết khi đang làm việc trong ngày. Có nhiều cách để ta tập thiền như khi đang đi, đang làm việc v.v Có nhiều cách để chúng ta tập gia tăng khả năng nhận biết, như chỉ giữ yên lặng, hoặc đọc bài viết này, hoặc đọc những quyển sách mà chúng tôi đề nghị ở cuối bài, các hành động này đều giúp ta bắt đầu con đường khai mở nhận biết. Nói một cách đơn giản, chúng ta chỉ cần bắt đầu quan sát hoàn cảnh hiện tại của mình, các sinh hoạt, đồ vật, người v.v trong cuộc đời mình. Chúng ta cũng có thể tập Thiền Tánh Không sẽ chỉ cho ta cách làm sao gia tăng năng lực nhận biết. Điều này sẽ giúp ta hiểu người khác hơn, gia tăng lòng biết ơn và chấp nhận, và các điều này sẽ cho ta nhiều thỏa mãn hơn trong cuộc đời. Một khi chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình nhận biết (hay là Bát Chính Đạo như Đức Phật dạy) ta sẽ từ từ thấy có nhu cầu mở tâm ra hơn và thực tập nhiều hơn cái biết không lời, và tiến trình này sẽ dẫn ta đến đích tối hậu là chứng ngộ chân tánh (chân ngã) của ta.  

 

 Đề nghị đọc thêm:

 

  • D.T. Suzuki: Vô Tâm
  • Bát Nhã Tâm Kinh, bản dịch Anh Ngữ của Thiền Sư Lok To
  • Kinh Vô Ngã Tướng, Tương Ưng Bộ, số 22:59
  • Thiền Sư Thích Thông Triệt: bản dịch Anh Ngữ các sách của Thầy: Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học, Thiền và Kiến Thức Thời Đại (sẽ phát hành năm 2019) và Tiến Trình Tu Chứng và Thành Đạo của Đức Phật giảng cặn kẽ tác dụng của nhận biết không lời và trí huệ trên tâm, não bộ và cơ thể con người.

 

Website Anh Ngữ: www.sunyatameditation.org

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Chín 2018(Xem: 321)
Tính đến nay, Đức Phật đã nhập diệt 2,562 năm, nhưng Giáo Lý cao siêu mà Ngài đã dày công hoằng dương trong 45 năm dài vẫn còn lưu lại cho nhân thế. Ngài đã để lại cho thế gian một đại kho tàng văn hoá Phật giáo đồ sộ qua ba tạng: Kinh, Luật và Luận.
19 Tháng Chín 2018(Xem: 563)
Bài kinh "Bhaddekaratta" hay "One fortunate attachment" hoặc "Một Dính Mắc May Mắn" mà Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch là "Kinh Nhất Dạ Hiền Giả", tuy ngắn gọn và đơn giản nhưng xét kỷ thì thật sâu sắc. Đức Phật đã nhắm đúng vào tâm trạng của chúng sinh luôn khổ để mà giảng bài kinh này.
18 Tháng Chín 2018(Xem: 748)
Sau khi đi dạo qua ba cửa thành, Đức Phật nhận ra con người phải bị già, bệnh, chết mới nói rằng ta đã lỡ bị sanh có nghĩa là mình không có muốn sinh ra mà mình vẫn bị sanh ra; khi bị sanh ra rồi thì mình phải chịu cái cảnh già, bệnh, chết. Đức Phật nói ta lỡ bị sanh bây giờ ta đi tìm cái vô sanh. Vậy cái vô sanh là cái gì?
17 Tháng Chín 2018(Xem: 718)
Thiền trong đời hay đạo là làm sao chuyển được cái tâm (thay đổi bên trong) từ tâm dính mắc, lăng xăng thành tâm chỉ biết đến thầm nhận biết. Từ bước đầu tiên là không có lời nói thầm trong đầu cho đến khi thọ biết mà không dính.
13 Tháng Chín 2018(Xem: 388)
Pháp Như Thật là phương thức thực tập nhằm chuyển đổi Tâm lao xao, loạn động sang tĩnh lặng, khách quan. Lậu hoặc/tập khí, kiết sử, tuỳ miên vẫn còn nhưng bị cô lập không khởi lên thành tạp niệm.
09 Tháng Chín 2018(Xem: 978)
Nhờ thiền Quán mà ta sẽ thay đổi được cách nhìn, thấy một cách sáng tỏ và nhận ra chân tánh của hiện tượng thế gian; nhờ vậy sẽ sống thật, diệt trừ được tham sân si nên không còn tạo nghiệp mới nữa.
30 Tháng Tám 2018(Xem: 1016)
Vu-lan (Skt: Ullambana; Hungry Ghosts Festival) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn, cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa, là cách phát âm Phạn-Hán từ danh từ Ullambana.
22 Tháng Tám 2018(Xem: 685)
Trên bước đường tu tập, nhất là tu Thiền thì năm triền cái: Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo hối và Nghi hoặc là những chướng ngại lớn nhất.
03 Tháng Tám 2018(Xem: 838)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Cho nên, những ai lập chí xuất gia đều có chung một sở nguyện là mong được thoát khổ, giác ngộ và giải thoát.
24 Tháng Bảy 2018(Xem: 978)
Bài giảng trong Khóa Bát Nhã Trung Cấp 1 tại đạo tràng Houston từ ngày 2 đến 8 tháng 6 năm 2018.
20 Tháng Bảy 2018(Xem: 522)
Trên con đường tu học Phật. Chúng ta phải tự mình tìm hiểu chính bản thân của mình. Xem mình đang ở vị trí nào trong bốn hạng người mà Đức Phật đã nêu trên. Dù chúng ta thuộc hạng người nào thì bây giờ cũng chưa muộn. Chúng ta bắt đầu tự sửa chữa bản thân của mình.
15 Tháng Bảy 2018(Xem: 909)
Chính nhờ "học thiền", biết cách sống trong Chánh Niệm mà con người mới thật sự được an lạc hạnh phúc, mới điều chỉnh được mọi nhiễu nhương phiền não mang tới từ đời sống.
07 Tháng Bảy 2018(Xem: 760)
Tu Tướng hay Tu Phước, Tu Tâm hay Tu Huệ... cả hai đều cần thiết cho cuộc đời tu tập của người Phật tử.
10 Tháng Năm 2018(Xem: 1091)
Câu hỏi: “Con người từ đâu đến, chết đi về đâu?” có nhiều cách trả lời, nhưng hợp lý hay không hợp lý là tuỳ theo quan niệm và đức tin của mỗi người, chúng ta không bài bác.
22 Tháng Tư 2018(Xem: 2665)
Bài Pháp Thoại của Thầy Không Chiếu tại Thiền Đường Tánh Không ngày 21 tháng 4, 2018
07 Tháng Tư 2018(Xem: 1266)
Phước Huệ song tu là cùng thực hành hay ứng dụng xen kẽ hai thứ Phước và Huệ trong sinh hoạt hằng ngày của ta.
07 Tháng Ba 2018(Xem: 1425)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
05 Tháng Ba 2018(Xem: 1521)
Đường lối hướng dẫn Thiền của Thiền Tánh Không thật ra đã có mặt trên đất Mỹ từ năm 1995; tới nay xem như là 23 năm rồi. Từ đầu tiên cho tới bây giờ, đường lối tu tập cũng vẫn là nhất quán tức là theo đúng những lời dạy của Đức Phật.
15 Tháng Hai 2018(Xem: 809)
Lão Không xin chúc mọi nhà ( nhà Thiền ) Lòng im tĩnh lặng, TATHÀ tâm như Ngày đêm cố bỏ cái “hư” Gieo hạt giống tốt, tượng từ mầm Không
13 Tháng Hai 2018(Xem: 1652)
Đề tài nói chuyện hôm nay là "Thân Tâm Thường An Lạc". Như đã giới thiệu ở phần dẫn nhập, đây là câu chúc thiện lành, chúng ta thường nghe các Phật tử chúc lẫn nhau khi Xuân về Tết đến.
06 Tháng Hai 2018(Xem: 2142)
Ngày thứ bảy 3 tháng 2 năm 2018, có buổi thuyết giảng với chủ đề: "Ta Từ Đâu Đến, Ta Đi Về Đâu" do Thầy Không Chiếu đến từ Thiện Viện Tánh Không dành cho đại chúng và Thiền sinh Nam Cali.
28 Tháng Giêng 2018(Xem: 2838)
Thuyết giảng Đại chúng tại Đạo tràng Nam Cali ngày 27 tháng 1 năm 2018.
08 Tháng Giêng 2018(Xem: 1656)
Theo Lý Nhân Quả của nhà Phật thì tất cả mọi gia đình dù giàu hay nghèo, tất cả mọi cá nhân dù đẹp hay xấu, khoẻ mạnh hay tật nguyền và tất cả những người may mắn hay những người kém may mắn đều bị xoay vần trong bánh xe Nhân Quả.
04 Tháng Giêng 2018(Xem: 2627)
Buổi Thuyết Giảng Đầu Năm Tại Thiền Đường Tánh Không thuộc Đạo tràng Nam Cali.
27 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1261)
Trong không khí tưng bừng của mùa lễ Tạ Ơn và trong cái ấm áp bất ngờ của thời tiết mùa thu năm nay, 2017, Lễ Tạ Ơn Thầy Thiền Chủ do Đạo tràng Nam California tổ chức ngày chủ nhật 26 tháng 11 tại Thiền Viện Tánh Không.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 2028)
Các bài viết mới của Sư Cô Hằng Như trong năm 2017.
01 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1721)
Ký Sự Buổi Bế Giảng Lớp Trung Cấp 1 Bát Nhã Tại Tổ Đình.
13 Tháng Chín 2017(Xem: 2121)
Khóa Huấn Luyện Viên Thiền Định (HLVTĐ) Cấp 3 năm nay được khai mạc vào ngày 1 tháng 9 và bế giảng vào ngày 30 tháng 9 năm 2017.
06 Tháng Chín 2017(Xem: 2130)
Ni Sư giải thích con đường độc nhất chính là con đường của cái biết không lời từ Thầm nhận biết (Không Tầm không Tứ) cho đến cái Nhận thức biết như vậy của Tâm như.
18 Tháng Sáu 2017(Xem: 2462)
Theo Ni Sư Triệt Như thì chương trình Giáo Lý Phật học cho các thiền sinh khắp nơi từ 1995 tới đây là tạm đủ. Bây giờ nhu cầu của Thiền Sinh là nhập thất chuyên tu thiền Định. Mỗi lần nhập thất ít nhất là 10 ngày. Một năm phải nhập thất một hoặc hai lần để củng cố định lực.
30 Tháng Tư 2017(Xem: 2439)
Nói đến Phật Đản mọi người đều hiểu đó là ngày sinh của đức Phật Thích Ca, là ngày mà các chùa chiền, tu viện ở nhiều quốc gia trên thế giới đều long trọng tổ chức Lễ Phật Đản để kỷ niệm ngày ra đời của một vị Đại Giác Ngộ tại vườn Lâm-Tỳ-Ni.
23 Tháng Tư 2017(Xem: 2648)
Ếch rất giống với con người trong khả năng điều chỉnh với môi trường sống. Khi một con ếch được đặt trong một chảo nước lạnh và bắt đầu đun lên cho nóng. Khi nhiệt độ nước tăng, ếch có khả năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể cho phù hợp.
06 Tháng Tư 2017(Xem: 3135)
Kinh Duy Ma Cật thuộc hệ thống Phát Triển, không biết tác giả, có thể xuất hiện khoảng 100 năm trước công nguyên. Gốc tiếng Sanskrit, được nhiều vị dịch sang tiếng Hán rồi dịch qua tiếng Việt.
27 Tháng Ba 2017(Xem: 4610)
Tiết trời vào xuân luôn mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Như buổi sáng hôm nay, trong khuôn viên của Thiền viện vừa đi rảo bộ ngắm muôn hoa khoe sắc vừa thưởng thức bầu trời nắng ấm dịu dàng lan tỏa khắp không gian, tôi thấy mình hạnh phúc với tất cả những gì đang diễn ra.
27 Tháng Giêng 2017(Xem: 2072)
Mỗi cuối năm khi hoa mai, hoa đào bắt đầu nở, khi ngoài trời vài cơn gió hiu hiu lạnh nhẹ nhàng lướt qua trên cành cây ngọn trúc, thì chúng ta biết là mùa Xuân đang về.
05 Tháng Giêng 2017(Xem: 8661)
Đây là lần thứ 7 cũng là lần đầu tiên Ni Sư Triệt Như hướng dẫn thiền sinh viếng thăm Phật tích tại Ấn Độ và Nepal.
14 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 2545)
Tất cả các pháp trong vũ trụ vạn hữu đều vận hành theo quy luật Duyên sinh hay Duyên khởi. Nghĩa là các pháp sinh khởi theo Duyên, theo các điều kiện. Không có một pháp nào tồn tại độc lập. Chúng phải nương vào các yếu tố, điều kiện để phát sinh.
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 1083)
Theo sử để lại thì Đức Phật Thích Ca là vị Phật có thật trong lịch sử văn hoá nhân loại. Sách có ghi lại cuộc đời của Ngài từ khi mới sanh ra và lớn lên. Ngày nay tại Ấn Độ và Nepal vẫn còn các di tích nơi Đức Phật sinh ra, nơi Ngài thành đạo, nơi Ngài chuyển bánh xe Pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như và nơi Ngài nhập Niết Bàn.
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 918)
Sinh hoạt cầu an hay cầu siêu là những sinh hoạt khá quen thuộc và phổ thông trong đời sống hằng ngày, nên chúng ta xem là bình thường, nhưng cũng có người thắc mắc là tại sao chúng ta phải cầu an?
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 785)
Người sống tỉnh thức là người sống giữa cuộc đời nhiều mê lầm, huyễn hoặc... mà vẫn tỉnh táo không bị sa ngã
25 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1999)
Tứ Diệu Đế là bài kinh đầu tiên Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề. Đó là bài kinh giảng về sự khổ của con người, về nguyên nhân của khổ, về phương pháp tu tập để diệt tận khổ đau.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1147)
Sống trong thời đại văn minh, con người cần phải học hỏi để theo kịp trào lưu tiến bộ trong nhiều lãnh vực như Y học, Não học, Tâm lý học, Địa chấn học, Thiên văn học, Vũ trụ học v.v...
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1299)
Một sắc thái Tâm tạm đặt tên là Tâm Thế Gian còn gọi là Tâm Phàm Phu và một sắc Tâm thứ hai cao thượng hơn gọi là Tâm Bậc Thánh. Còn Tâm thứ ba là cái Tâm sâu sắc, hoàn hảo, trong sạch mà chúng ta thường nghe nhắc đến, đó là Tâm Phật.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 805)
Sống hạnh phúc là sống một cách vui vẻ thoải mái, mọi thứ luôn được như ý của mình.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 824)
Nghiệp là thuật ngữ được dịch ý từ tiếng Phạn là Karma, tiếng Pàli là Kamma. Nghiệp, nghĩa đen là làm một cái gì đó, tác động một cái gì đó.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1264)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó có tính cách khuyến khích tự nguyện...
24 Tháng Mười Hai 2016(Xem: 2413)
Thiền sinh Mai Thanh Quí là thiền sinh gắn bó với Thiền Tánh Không vào những năm 2007 đến 2010, mất lúc 9:45 sáng ngày 16 tháng 12 năm 2016 tại tư gia - Huntington Beach, California, hưởng dương 56 tuổi.
05 Tháng Chín 2016(Xem: 3534)
Khóa 2 Huấn Luyện Viên Thiền Định bắt đầu từ ngày 3 tháng 9 đến 12 tháng 9 năm 2016 tại Tổ Đình Thiền Viện Tánh Không.
07 Tháng Tám 2016(Xem: 3292)
Khóa 1 Huấn Luyện Viên Thiền Định bắt đầu từ ngày 6 tháng 8 đến 15 tháng 8 năm 2016 tại Tổ Đình Thiền Viện Tánh Không.
07 Tháng Sáu 2016(Xem: 5895)
Hướng dẫn phương thức thực hành "7 Bước An Trú Trong Tâm Tathā" với kỹ thuật "Không Nói". Phương thức thực hành này gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 gồm 4 bước còn dùng lời và giai đoạn 2 gồm 3 bước hoàn toàn không lời.
02 Tháng Sáu 2016(Xem: 5300)
Sự tiến bộ trong việc thực hành Thiền căn cứ trên sự khám phá nội tâm và nhận ra chính mình. Tiến trình tu tập chính là tiến trình của cái biết: từ cái biết đi đến nhận thức cho đến khi trí tuệ tâm linh bật ra.
08 Tháng Tư 2016(Xem: 5254)
Ngày Truyền Thống Thiền Tánh Không mọi năm thường tổ chức vào chủ nhật tuần lễ sau Tết Âm Lịch. Nhưng đây là lần đầu tiên ngày Truyền Thống được quy định sẽ tổ chức vào ngày chủ nhật tuần lễ đầu tiên của tháng tư.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 4639)
Lạ thật rồi, không thể là chuyện đùa đâu, nhưng không hiểu chiếc đũa thần của nàng tiên nào lại gõ vào ước mơ của Hội Thiền Nam Cali đúng vào dịp Tết Bính Thân như thế ?... Thật là một món quà Tết vô giá cho mọi thiền sinh, cho toàn thể đạo tràng!...
22 Tháng Ba 2016(Xem: 4719)
Lễ Khánh thành Thiền Đường Tánh Không của Hội Thiền Tánh Không Nam Cali, thực hiện hôm Thứ Bảy 19-3-2016 từ 9am-10am đã hoàn mãn. Như thế, Hội Thiền Tánh Không đã có trú xứ thường trực, địa điểm lại ở ngay khu vực Little Saigon, tiện lợi cho Phật tử Quận Cam tới tu học theo các khóa hàng ngày hay hàng tuần.
19 Tháng Ba 2016(Xem: 6667)
Lần đầu tiên đạo tràng Thiền Tánh Không nam California có một thiền đường tọa lạc trong khu thị tứ đông đúc ở góc đường Brookhust và đại lộ Garden Grove, thành phố Garden Grove.
07 Tháng Ba 2016(Xem: 7635)
Thiền Định giúp cho Tâm con người trở về sự tĩnh lặng và trong sáng của chính nó. Hạnh phúc bắt đầu từ những điều giản dị nhất: chỉ cần ngồi thở và biết mình đang thở.
03 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 5596)
Bài viết :" Lời Tạ Ơn" của Thiền Sinh Uyễn Như đọc trong buổi Lễ Tạ Ơn tại HTTK Sacramento CA ngày 29/11/2015
01 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 6760)
Dù trời nắng lấp lánh chiếu sáng khắp sân của Thiền viện nhưng âm ỉ trong không khí vẫn có cái lành lạnh rét mướt. Những hơi lạnh đan lùa vào mái tóc, len qua từng sợi chỉ áo, chạm vào người lạnh buốt. Lòng tôi chợt ấm lại khi nghĩ về một ngày lễ đặc biệt đã có từ 2 năm qua.
26 Tháng Mười Một 2015(Xem: 5183)
Chúc mừng lễ Thanksgiving Thân tâm an lạc, tròn tình Tánh Không
18 Tháng Mười Một 2015(Xem: 8763)
Nếu nắng sớm mai luôn biết cách làm vạn vật trở nên tươi mát và tràn đầy nhựa sống thì Thiền giúp cho Tâm con người trở về sự tĩnh lặng và trong sáng của chính nó.
04 Tháng Mười Một 2015(Xem: 6795)
Các bài Tổng Kết Khóa 1 Tâm Lý Học Phật Giáo, của Thầy Không Chiếu, được đăng trong Đặc San Thiền Tánh Không Số 3 và 4 năm 2001 và 2002.
03 Tháng Mười Một 2015(Xem: 13411)
Nắng đã tràn ngập sân Thiền viện. Lá của những cây tiêu no nê trong nắng sớm cũng bắt đầu đong đưa nhè nhẹ như để cám ơn bình minh. Hôm nay là ngày bế giảng lớp Trung cấp 4 Bát Nhã.
27 Tháng Mười 2015(Xem: 41322)
Dựa trên bài giảng xúc tích của Thầy Thiền Chủ tại Tổ Đình cho Tăng Ni trong mùa An Cư Kiết Đông (2015), và bài giảng của Ni Sư Triệt Như cho các thiền sinh tại đạo tràng Tánh Không Hoa Thịnh Đốn, người viết mạo muội tổng hợp và ghi nhận lại những ý chánh, nhắm làm quà đầu năm cho tất cả những ai thích tìm hiểu.
12 Tháng Mười 2015(Xem: 8821)
Ký Sự Lớp Tu Học Đặc Biệt "Não Bộ và Thiền". Tổ chức tại Tổ Đình từ ngày 3 đến 11 tháng 10 năm 2015.
28 Tháng Chín 2015(Xem: 9828)
Khóa BÁT NHÃ - Lớp Trung Cấp 4 tại Đạo Tràng Hoa Thịnh Đốn, USA từ 18 đến 26 tháng 7 năm 2015.
05 Tháng Chín 2015(Xem: 8776)
Ni Sư Triệt Như Giảng Về Bát Nhã Tâm Kinh.
16 Tháng Bảy 2015(Xem: 12703)
Tất cả những hiện tượng thế gian đều là danh sắc, thay đổi không ngừng. Chúng chỉ tồn tại trong từng sát na khó mà nhận biết.
20 Tháng Ba 2015(Xem: 10854)
Ngày Đại Lễ Kỷ Niệm 20 năm hoằng pháp của Thiền Tánh Không và Lễ Truyền Y cùng thiền bảng cho người kế thừa tông môn vào ngày 22 tháng 2 năm 2015 nhằm ngày mồng 04 Tết Ất Mùi.
27 Tháng Hai 2015(Xem: 9783)
Tôi được sống lại không khí xôn xao, ấm áp dưới mái Tổ Đình thân yêu khi các Anh Chị Thiền Sinh từ khắp năm châu quy tụ trở về Tổ Đình để tham dự khóa học đặc biệt như những đàn chim xa xứ chợt nhớ về tổ ấm.
16 Tháng Hai 2015(Xem: 9496)
Tôi thấy thật hạnh phúc vì đã được đóng góp một chút công sức cùng với các Huynh Tỷ cho Tổ Đình trong những ngày cận Tết.
20 Tháng Giêng 2015(Xem: 8511)
Hình ảnh của buổi lao tác tại Thiền Viện; chuẩn bị cho các khóa tu học và ngày lễ kỷ niệm 20 năm hoằng pháp.
15 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 11264)
Xin gởi đến quý Bác và quý Anh Chị những sinh hoạt và hình ảnh ngày công quả tại Thiền Viện cùng những lời giảng của Thầy ngày Chủ Nhật 7 tháng 12 vừa qua.
25 Tháng Mười Một 2014(Xem: 11777)
Thật là một ngày vui trọn-vẹn, hoàn-toàn. Tôi ra về , tâm-hồn tràn ngập niềm vui với ý-nghĩ :" Từ nay "Tánh-Không " lại thêm một ngày truyền-thống dễ-thương nữa : “Ngày Tạ-ơn thầy"
24 Tháng Mười Một 2014(Xem: 9215)
Ngày Lễ Tạ Ơn Tại Thiền Viện Tánh Không Năm 2014
29 Tháng Mười 2014(Xem: 10323)
Bài viết về dự án "Gem in Perris" với nguyện ước xây dựng lại bếp và nhà ăn tại Thiền Viện Tánh Không.
14 Tháng Tám 2014(Xem: 8577)
Tường Trình Buổi Lễ Ra Mắt Sách Tại Nam California năm 2014
18 Tháng Bảy 2014(Xem: 14628)
Giới Thiệu 2 Quyển Sách Mới Của Thiền Sư Thích Thông Triệt Sẽ Ra Mắt Trong Tháng 8 Năm 2014.
19 Tháng Năm 2014(Xem: 11283)
Bài viết sau khi dự lễ cầu siêu 49 ngày tưởng niệm cho Chị Thuần Như, một Thiền sinh gắn bó với Hội Thiền Tánh Không ở San Jose từ hơn 7 năm qua.
24 Tháng Hai 2014(Xem: 13503)
Lễ Xuất Gia tại Thiền Viện Tánh Không
05 Tháng Hai 2014(Xem: 11219)
Bài Thuyết Trình Của Ban Điều Hành Trung Ương Thiền Tánh Không
26 Tháng Mười Một 2013(Xem: 13922)
Ký Sự về Lớp Trung Cấp 2 Bát Nhã tại Nam Cali trong tháng 11 năm 2013.
30 Tháng Tư 2013(Xem: 26604)
Tiễn Biệt Bác Tuệ Khánh Đào Khánh Thọ.
08 Tháng Tư 2013(Xem: 16297)
Bài Tổng Kết và Hình Ảnh của Lớp Thiền Căn Bản 94.
09 Tháng Ba 2013(Xem: 14775)
Tường Trình Về Các Lớp Học Đầu Xuân Quý Tỵ và Lễ Khánh Thọ tại Thiền Viện Tánh Không.
06 Tháng Ba 2013(Xem: 83018)
Bài đọc thêm số 1: KHÓA 1 ĐÀO TẠO HUẤN LUYỆN VIÊN CĂN BẢN VỀ KHÍ CÔNG: NHỮNG TRỢ DUYÊN THIẾT THỰC CỦA KHÍ CÔNG ĐỐI VỚI SỰ THỰC HÀNH THIỀN
31 Tháng Mười Hai 2012(Xem: 14194)
Tường Trình Ngày Lễ Khai Mạc Trung Tâm Thiền Tánh Không Texas.
16 Tháng Hai 2012(Xem: 22444)
Các Bài Đọc Thêm Năm 2011: Hệ Thần Kinh Tự Quản và Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền.
22 Tháng Giêng 2012(Xem: 17915)
Tường Trình Ngày Lễ Tân Niên & Chúc Tết Nhâm Thìn 2012.
04 Tháng Giêng 2012(Xem: 9155)
Bài Pháp đầu năm 2012: Đạo Phật và Khoa Học.
04 Tháng Mười Một 2011(Xem: 19608)
Ký Sự Về Các Lớp Tu Học tại Thiền Viện trong tháng 10 năm 2011.
08 Tháng Tám 2011(Xem: 18687)
Ký Sự Chuyến Du Hóa Sydney, tháng 4 năm 2011.
08 Tháng Tám 2011(Xem: 16954)
Ký Sự Chuyến Du Hóa Virginia, USA tháng 3 năm 2011.
01 Tháng Tám 2011(Xem: 16837)
Ký Sự Chuyến Du Hóa tại Đức, tháng 7 năm 2011.
01 Tháng Tám 2011(Xem: 18067)
Ký Sự Chuyến Du Hóa tại Houston. Tháng 6 năm 2011.
18 Tháng Bảy 2011(Xem: 23173)
Ngày 24 tháng 6- 2011, Thầy Thiền Chủ và tăng đoàn từ giả thành phố Houston bay qua Québec để dự Hội nghị Khoa Học về não bộ.
17 Tháng Bảy 2011(Xem: 16818)
Tháng 5- 2011, Thầy và tăng đoàn vừa hoàn thành các khóa tu học tại Pháp. Đạo tràng Pháp năm nay đã phát triển lớn mạnh hơn qua việc tổ chức nhiều khóa tu học.
20 Tháng Chín 2010(Xem: 18729)
Mai Thanh Tường Trình: Buổi Thuyết Trình và Ra Mắt Sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học" tại Nam Cali ngày 3 tháng 9, 2010 tại Seafood Place 2 _ thành phố Anaheim