HẠNH HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT
Là con người có mặt trên cõi đời này đều do cha mẹ sanh ra và nuôi dưỡng từ lúc mới lọt lòng cho đến khi trưởng thành. Cha mẹ không chỉ nuôi con khôn lớn dựng vợ gả chồng giúp con gầy dựng một gia đình mới. Đôi khi, có những bậc cha mẹ còn cưu mang con cái suốt cuộc đời, nếu chẳng may con cái bị khuyết tật không thể tự nuôi sống một mình. Theo dõi hình ảnh tin tức trên cộng đồng mạng, chúng ta thấy có nhiều cụ già trên bảy, tám chục tuổi, mắt mờ, đi đứng không vững, vẫn còn lụm cụm chăm sóc nuôi nấng con cái bệnh hoạn của mình. Trông thật thương xót! Cho nên người làm con phải biết ơn cha mẹ và có bổn phận hiếu kính cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình dù còn sống hay đã qua đời.
Trong nhà Phật có một ngày lễ quan trọng, đó là Lễ Vu Lan. Lễ Vu Lan là ngày lễ tri ân, báo ân, báo hiếu cha mẹ. Lễ này rơi vào ngày Rằm tháng Bảy âm lịch hằng năm, nhằm ngày chư tăng ni Tự tứ. Sau ba tháng an cư kiết hạ, toàn thể tăng ni Phật tử noi gương hiếu của Đức Mục Kiền Liên, long trọng tổ chức đại lễ Vu Lan, để tưởng nhớ và báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.
Vu Lan là chữ phiên âm từ tiếng Phạn là Ullambana, còn gọi là Ô-lam-bà-noa nghĩa là Đảo huyền (treo ngược) ám chỉ nỗi khổ treo ngược của người đã mất. Tự tứ là thuật ngữ của Phật giáo, gốc từ tiếng Phạn là Pràvaràna có nghĩa là “sự thỉnh nguyện, thỉnh mời”. Buổi lễ này diễn ra vào ngày cuối cùng của ba tháng an cư kiết hạ. Ngày đó, mọi người tự nêu ra các tội lỗi mà mình đã phạm trước mặt các vị Tăng / Ni khác, và tự sám hối... để ba nghiệp được thanh tịnh, nên gọi là Tự tứ hay Thỉnh nguyện (được tha thứ).
Thời nay, trong ngày Lễ Vu Lan, ngoài việc lễ bái tụng niệm, có kèm thêm nghi thức cài hoa hồng trên áo cho tất cả mọi người. Duyên khởi từ đoản văn “Bông Hồng Cài Áo” của cố Thiền Sư Làng Mai, đã được nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ thành ca khúc nổi tiếng. Và bản nhạc này luôn được trình bày trong ngày Lễ Vu Lan. Những ai may mắn còn song thân sẽ được cài lên ngực áo đóa hoa hồng màu đỏ. Những ai không còn cha, hoặc mẹ, hoặc cả song thân, sẽ được cài hoa hồng trắng. Chư Tăng Ni thì được gắn hoa hồng màu vàng.
Trong buổi lễ, nghi thức quan trọng là phần thuyết giảng của Tăng / Ni về đức hiếu hạnh, nhắc lại câu chuyện Phật sử về Đức Mục Kiền Liên dùng thần thông tìm kiếm thân mẫu đã qua đời trước đó không lâu. Câu chuyện kể lại rằng thuở sinh thời thân mẫu tôn giả Mục Kiền Liên không tin Tam Bảo, không tin Nhân Quả, nên có những cử chỉ hành động phỉ báng đạo Phật; đồng thời gây nhiều điều tội lỗi khác, nên khi chết bị đọa vào cảnh giới ngạ quỷ cực kỳ đau khổ vì đói khát. Mặc dù được tôn giả dâng bát cơm trắng, nhưng vì lòng xan tham khiến chén cơm bốc cháy biến thành than đỏ, không ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên không giúp gì được mẹ, nên quay về cầu cứu cùng Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy trong ngày Tự tứ là ngày các vị Tỷ-kheo khắp nơi mãn hạ. Trong số chư vị này có nhiều vị đã chứng A-la-hán, A-na-hàm v.v., Tôn giả hãy dâng thức ăn đủ món, thỉnh cầu chư Tỷ-kheo tụng kinh hồi hướng cho thân mẫu của tôn giả, giúp bà tỉnh thức, buông bỏ lòng tham, hướng tâm thiện đến mọi người, thì sẽ thoát khổ. Và kết quả là bà được cứu thoát khỏi cảnh ngạ quỷ sanh lên cõi Trời an vui. Ngay khi đó, Đức Thế Tôn dạy cứ đến ngày Tự tứ mọi người cùng nhau dâng lễ cúng dường trai tăng, làm việc phước thiện, tụng kinh Vu lan hồi hướng cho ông bà cha mẹ hiện tiền được khỏe mạnh sống lâu, hồi hướng cho cha mẹ quá vãng được sanh về cõi Tịnh an vui.
Từ đó đến nay, lễ Vu Lan là ngày lễ báo hiếu được diễn ra đều đặn hằng năm vào ngày rằm tháng bảy. Ngày lễ này đã ăn sâu vào tâm khảm của người Phật tử Việt Nam và đã trở thành một nét đẹp văn hóa đầy nhân bản. Lòng hiếu thảo tôn kính mẹ cha được xem như một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp nhất trong các thứ tình cảm của loài người. Lòng hiếu thảo của con cái được ca ngợi là chất liệu, là sắc hoa, là hương thơm tô điểm cho cuộc đời. Ca dao Việt Nam khẳng định: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Trong kinh Phật còn dạy: “Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên.” Dù tu đạo nào, dù có học hay không học, hiếu nghĩa vi tiên là điều trước tiên con người phải thực hiện. Là con người thì phải tròn đạo hiếu, phải nhớ ân nghĩa và đền trả những ân nghĩa ấy. Trong tất cả các ân nghĩa, có thể nói lớn lao nhất là ân nghĩa cha mẹ.
II. BÁO HIẾU THEO LỜI PHẬT DẠY
Muốn báo đáp thâm ân cha mẹ, theo tinh thần hiếu hạnh trong đạo Phật, đòi hỏi chúng ta phải có trí tuệ, phải biết vận dụng trí tuệ mà báo đáp. Thế nào là báo đáp ân nghĩa cha mẹ có trí tuệ?
Trong kinh Tăng Chi Bộ I, Phẩm Tâm Thăng Bằng, Phần Đất, Đức Phật dạy trên đời có hai hạng người, mà theo Ngài không thể trả ơn được. Hai người đó chính là cha và mẹ của chúng ta. Ngài nói rằng nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha suốt một trăm năm, hay hằng ngày chăm sóc cha mẹ miếng ăn giấc ngủ, xoa bóp khi thân thể hai người đau mỏi, tắm rửa sạch sẽ cho cha mẹ. Mỗi khi cha mẹ có đại tiểu tiện cũng không nhờm gớm trong lúc làm vệ sinh... Làm như thế, cũng chưa đủ để trả ơn công lao trời biển mà cha mẹ nuôi dưỡng từ lúc còn là phôi thai trong bụng mẹ chín tháng mười ngày, đến khi mẹ xé thịt sinh ra, vắt sữa mình cho con no đủ, đêm đêm thức trắng khi con quậy khóc vì ấm đầu sổ mũi v.v. Còn cha cực khổ làm lụng kiếm tiền nuôi dưỡng gia đình, dạy dỗ con cái. Cứ thế cha mẹ quên thân mình chỉ biết lo cho con đến khi con trưởng thành... Nguyên văn đoạn kinh trong Tăng Chi Bộ như sau:
“... Có 2 hạng người, này các Tỷ-kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, xoa gội, tắm rửa và dầu tại đấy cha mẹ có đại tiểu tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa này các Tỳ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thắng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi dưỡng chúng khôn lớn, giới thiệu chúng vào đời này.” (ngưng trích)
Như lời Đức Phật, ơn đức cha mẹ như trời biển bao la không dễ báo đáp. Con cái cho dù có hết lòng phụng dưỡng, chu cấp đầy đủ về vật chất cũng không thể đáp đền công ơn dưỡng dục sanh thành trọn vẹn. Đức Phật dạy thêm rằng sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ không chỉ dừng lại ở sự phụng dưỡng về vật chất mà còn phải khuyến hóa cha mẹ hướng đến con đường thiện lành, tức báo ơn cha mẹ về mặt tinh thần. Nếu cha mẹ không có lòng tin Tam Bảo, làm con phải khéo léo hướng dẫn cha mẹ có lòng tin vào Tam Bảo, tin vào Nhân quả. Nếu cha mẹ có những hành vi không thiện lành, làm con phải hướng dẫn khuyến khích cha mẹ sống đời thiện lương. Nếu cha mẹ có tâm xan tham thì tìm cách khuyến khích cha mẹ bố thì giúp người v.v. Hết lòng lo cho cha mẹ về mặt vật chất và tinh thần như vậy mới gọi là người con có hiếu. Nguyên văn kinh dạy như sau:
“Này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ”. (ngưng trích)
III. KẾT LUẬN
Tóm lại, theo lời Đức Phật, con cái phải luôn tâm niệm báo đền công ơn cha mẹ. Sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ không chỉ dừng lại ở sự phụng dưỡng về vật chất, mà còn phải khuyến hóa cha mẹ hướng đến đời sống thiện lành, phát khởi tín tâm với Phật pháp, thực hành giữ giới, bố thí... Thực hiện được những điều như thế, chúng ta đã giúp cho cha mẹ tạo được những phước báo thù thắng khi còn sống ở đời, và tương lai sanh về cõi lành khi thân hoại mạng chung. Làm được như vậy mới là những người con có hiếu.
Nhân đây, chúng ta cùng nhớ lại sách xưa có dạy: “Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế” nghĩa là nếu chúng ta sanh ra trong đời không có Phật, thì chính cha mẹ hiện đời của chúng ta là Phật. Câu nói này nhằm nhắc nhở dù chúng ta là ai, học cao hiểu rộng, làm chức này chức nọ trong xã hội, giàu có hay nghèo khó cũng không được phép coi thường cha mẹ của mình, đừng quên công ơn sâu dày của song thân đã vì mình mà hy sinh không quản ngại. Trước khi chấm dứt bài viết này xin được trích lời dạy của Hòa Thượng Thích Nhật Quang trong quyển Hạnh Hiếu Trong Đạo Phật như sau: “Những ai không có điều kiện học hiểu Phật pháp, mà ở trong gia đình là một người con hiếu kính cha mẹ như Phật, thì người đó đã tu theo đạo Phật rồi”.
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

