HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Thích Thông Triệt: Luận giảng số 2: Vì sao chúng tôi chọn chủ đề: LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI ?

Friday, March 29, 20247:35 AM(View: 766)

Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về
THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
của HT Thích Thông Triệt (2014)
Luận giảng
số 2
Vì sao chúng tôi chọn chủ đề:
LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
?


Bia Sách2_ThienVaKienThucThoiDai_TueNguyen for WEB 4x6
Lý do thứ nhứt:
- Đánh dấu một kỷ nguyên mới: Thiền học Đông Phương chiếu sáng trong giới khoa học Tây phương
Kể từ khi ngộ đạo trong tù (1982), chúng tôi cảm thấy trong tâm mình lúc nào cũng khởi lên một niềm vui, không còn lo nghĩ gì về chuyện được trả tự do. Chấp nhận trả quả. Khi nào hết nghiệp tù thì mình được trả tự do, còn bây giờ nghiệp tù chưa dứt, thì cứ ở đây để trả quả thôi !
Bỗng một hôm, chúng tôi được Cán bộ Quản giáo cho biết là mình được lệnh chuyển trại… Sau đó, ông Cán bộ Quản giáo đưa tôi đến một nơi cũng cùng trong trại giam Thanh Liệt để chờ xe đưa về trại Tập trung Hà Tây. Khi đến nơi đó, chúng tôi thấy những người bạn tù mặt mày hốc hác, thân hình tiều tụy. Có những người chúng tôi biết trước kia, nhưng vào thời điểm đó, chúng tôi không nhận ra ai là ai. Ông Cán bộ Quản giáo chỉ chúng tôi, rồi nói:
- Trong các anh ở đây, anh này ở đây lâu nhất, mà sao trông gương mặt của anh trong sáng, hồng hào ?
Nghe câu nói như thế, chúng tôi tự sách tấn mình là: tu đúng rồi đó ! Nhưng đúng như thế nào, chúng tôi chưa trả lời được… Chỉ vì khi chúng tôi nhớ lại một câu nói của một người bạn tù khi chúng tôi ở trại B-5 tại Long Thành, vào một buổi sáng khi đi vệ sinh, một bạn tù hỏi tôi: “Trông Thầy hãy còn trẻ, nhưng năm nay Thầy được 80 chưa ?” Nghe câu hỏi như thế, chúng tôi mĩm cười gượng gạo đáp lại: “Chưa !” Lúc bấy giờ chúng tôi mới hơn ngoài 40 tuổi và ở tù được gần 2 năm thôi…
Rồi bây giờ 5 năm sau, được ông Cán bộ Quản giáo nói là mình trẻ và hồng hào. Qua dữ kiện đó, chúng tôi biết là mình đã tu đúng rồi.
Khi về trại Hà Tây (đây là trại tập trung), chúng tôi gặp lại bạn bè và có đầy đủ gương để soi lại mặt mình, thì thấy thần sắc mình trong sáng. Có nhiều anh bạn trước kia đến thăm tôi và nói một câu: “Bây giờ tôi biết Thầy tu đúng rồi đó nha !” Thế rồi, chúng tôi tự mình đặt câu hỏi: “Vậy sự đúng đó là từ nơi đâu ?” Cũng là thân này, nhưng trước đây lại già trước tuổi, và chỉ trong vòng 5 năm sau, cũng thân này mà lại trông trẻ và hồng hào.
Bắt đầu từ đó, chúng tôi tự đặt vấn đề sự đúng đó nó ở trong não bộ mình thôi. Nó có chất gì đó tiết ra để làm cho mình khỏe, mình vui tươi, và thần sắc trong sáng. Còn trước kia mình bị già đi, thì cũng có chất nước hóa học nào đó tiết ra, nó làm cho mình già trước tuổi.
Kể từ đó, chúng tôi khởi một ý nghĩ là sau này nếu được tự do, chúng tôi sẽ tìm hiểu về khoa học não bộ để hiểu rõ hoạt động của não bộ như thế nào khi mình ngộ đạo, cũng như khi mình dụng công bị bế tắc thì chất nước hóa học nào tiết ra đây.
Tiếp theo, chúng tôi được đưa về trại giam ở Hà Tây, miền Bắc Việt Nam… Đến tháng 3 năm 1985, chúng tôi được chuyển trại một mình đi về miền Nam, và tiếp tục nhập thất chuyên tu bất đắc dĩ tại trại giam đặc biệt ở đường Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Sài Gòn. Đến tháng 9 năm 1986, chúng tôi được đưa vào trại giam Chí Hòa cho đến tháng 2 năm 1989, chúng tôi được trả tự do.
Về Thiền viện Thường Chiếu, gặp lại Thầy của chúng tôiHòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ trong ngày Tết. Thầy trò gặp nhau mừng mừng tủi tủi… Chúng tôi có trình lên Thầy về những điều mình đã nhận ra được trong suốt 14 năm tù.
Trong đó, chúng tôi có trình lên về sự phát tâm của mình: “Sau này, nếu đủ duyên, con sẽ trình bày lại pháp của Thầy dưới dạng khoa học đối chiếu với não bộ, vì con đã nhận ra rằng cũng với thân này mà tại sao trước đó con như người già 80 tuổi, trong người lại có nhiều bệnh, đặc biệt nhất là thần sắc không trong sáng, còn cơ thể thì tiều tụy. Rồi bây giờ cũng thân này, tại sao nó trẻ đi, thần sắc lại trong sáng nữa. Do đó, con nghĩ rằng có điều gì đó hoạt động trong não bộ của con người, chính sự hoạt động đó nó đã đưa con người đến chuyển hóa thân tâm của mình.” Thầy của chúng tôi đồng ý.
Đến đầu năm 1991, Thầy chúng tôibiên soạn quyển sách Thiền lấy tên là “Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20.” Ông đưa cho chúng tôi xem để cho ý kiến… Sau khi xem xong cuốn sách, chúng tôi trở lại Thường Chiếu gặp Thầy để trình ý kiến như sau: “Xin Thầy cho con diễn giải pháp Thiền của Thầy dưới dạng Đồ thị dẫn giải bằng cách trình bày theo khoa học.” Thầy chúng tôi đã đồng ý. Thế là ngày ngày chúng tôi ở tại thất riêng của thầy Nhật Quang, trụ trì Thường Chiếu, để giảng giải pháp Thiền của Thầy chúng tôi qua hình ảnh não bộ. Ngày 10 tháng 10 năm 1992, chúng tôi hoàn tất bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền.”

Cuối năm 1992 (ngày 24-11-1992), trước ngày chúng tôi lên đường sang Mỹ để định cư, Thầy của chúng tôi triệu tập một phiên họp tại thất riêng của Thầy ở Thiền viện Thường Chiếu. Mục đích chính của phiên họp này là trước chư Tăng của Thường Chiếu, Thầy của chúng tôi muốn hợp thức hóa pháp Thiền của Thầy mà chúng tôi đã dẫn giải bằng khoa học não bộ qua bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” bằng lời chứng minh dưới đây:
“Tập Đồ Thị do Thông Triệt biên soạn, dẫn giải các pháp Thiền do tôi dạy, ghi trong cuốn “Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ hai mươi” là thuộc về luận. Mà luận thì phải luôn luôn thích hợp với tư tưởng hay nhận thức của thời đại. Thời đại của chúng tathời đại khoa học thực nghiệm, cho nên ngôn từhình ảnh mà Thông Triệt tạm dùng để đối chiếu hay giải thích các pháp do tôi giảng dạy cũng phải thích hợp với trào lưu tiến hóa của thời đại, để thành phần trí thức dễ tiếp thu hơn. Đó là điều hợp lý.”
Sau khi đặt chân lên đất Mỹ cuối năm 1992, mãi đến năm 1995, chúng tôi mới thực hiện được ước mơấn hành bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” gồm 2 tập.
Đây là bước đầu tiên chúng tôi đã đưa Thiền Tông Việt Nam vào thế giới khoa học của Tây phương.

Lý do thứ hai:
- Ước mơ được chụp hình não bộ để chứng minh các vùng trong não bộ phù hợp với lời dạy của Đức Phật
Đến Mỹ cuối năm 1992, đầu tiên chúng tôi ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Đến khoảng giữa năm 1993, chúng tôi sang tiểu bang Hawaii để thăm một người bạn. Rồi qua một nhân duyên đặc biệt, người đón chúng tôi tại phi trường Hawaii là cô Helen Phan Thanh cùng với ông xã tên là David Johnson, một Giáo sư Tiến sĩ ngành Tâm lý học tại trường Đại học Hawaii. Sỡ dĩ chúng tôi nói “nhân duyên đặc biệt,” đó là khi đón chúng tôi tại phi trường, thay vì dùng câu nói xã giao để tiếp đón chúng tôi, thì cô lại đưa ra một tập giấy lớn “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” mà chúng tôi vừa mới hoàn thành tại Việt Nam để trình lên Thầy của chúng tôi, trước khi chúng tôi sang Mỹ. Thật hết sức bất ngờ khi nhìn thấy tập này… Thế là sau đó chúng tôi thân thiện với gia đình ông bà Johnson.
Trong thời gian lưu lại tại Hawaii, ông Johnson đã đưa chúng tôi vào thăm trường Đại học Hawaii. Nơi đây, chúng tôi đã tìm được một cuốn sách nói về những chức năng đặc biệt của vùng Dưới đồi (Hypothalamus). Sách dày trên 800 trang, chúng tôi liền nhờ ông Johnson mượn quyển sách này …
Trước khi từ giã hai ông bà để trở về đất liền, chúng tôi lại được một món quà đặc biệt là hai ông bà hứa sẽ tặng cho chúng tôi một ngôi nhà ở tiểu bang Oregon để chúng tôi tạm yên nơi.

Chính ngôi nhà này là nơi chúng tôi đã tiếp đón Thầy của chúng tôi vào tháng 10 năm 1994. Thầy của chúng tôi đã chính thức làm lễ chứng minh Thiền Thất Tánh Không do chúng tôi thành lập đầu tiên tại tiểu bang Oregon. Rồi tiếp theo sau đó, vào ngày 1 tháng 1, năm 1995, chúng tôi đã mở khóa Thiền Căn Bản đầu tiên tại nơi đây.
Ngay từ thời gian đầu ở tại Seattle (năm 1993), chúng tôi đã có dịp đọc tạp chí Scientific American, trong đó các nhà khoa học thần kinh não bộ đã chụp hình được 4 vùng trong não bộ: (1) tánh Thấy, (2) tánh Nghe, (3) vùng Giải mã khái niệm là vùng Broca, (4) vùng Nói thầm ngay tại vùng Ý chí vận động; hình chụp bằng máy PET (Positron Emission Tomography). Xem qua tin này, chúng tôi ước mơ rằng mình sẽ có điều kiện thuận lợi để chụp hình 2 tánh là: Tánh Xúc chạm và Tánh Nhận thức biết, để cho trọn vẹn đủ 4 Tánh mà Đức Phật đã mô tả trong kinh Bāhiya.
Giữa năm 1994, nhân dịp khi ông Johnson qua Seattle để đưa chúng tôi về Oregon để làm thủ tục bàn giao căn nhà, chúng tôi có đề cập với ông là có cách gì giúp chúng tôi liên lạc với tạp chí Scientific American để chụp hình não bộ của chúng tôi… Ông lắc đầu và cho biết rằng việc này rất khó thực hiện vì nó rất tốn kém; hơn nữa, vào thời điểm đó, khoa học Mỹ chưa chứng minh được hai vùng: Tánh Xúc chạm và Tánh Nhận thức biết.
Không chán nản, chúng tôi vẫn nuôi dưỡng ước mơ đó và tin tưởng rằng một ngày nào đó mình sẽ thành tựu được ước mơ này, với điều kiện là mình phải có khả năng vào Định dễ dàng như búng ngón tay…
Lặng lẽ nuôi dưỡng hy vọng
Thế rồi, chúng tôi không nghĩ gì đến điều đó nữa, mà chỉ đặt trọng tâm vào việc thực hành Thiền Định bằng cách khởi ý không nói cho đến một ngày nào đó vững vàng trong 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Khi nào muốn khởi niệm thì khởi, không muốn khởi niệm thì niệm đó nằm im ngay tại vùng biết của cơ chế Tánh giác, hay ngay tại vùng nhận thức biết của cơ chế Phật tánh tức Tâm như… thì lúc đó ước mơ chụp hình não bộ sẽ được thành tựu.
Mãi đến 12 năm sau, nhân duyên hội đủ, vào năm 2006 khi sang Đức quốc dạy học, ước mơ chụp hình não bộ của chúng tôi đã bắt đầu trở thành sự thật. Đây là nhờ sự kiên tâmtrì chí của cặp vợ chồng trẻ bác sĩ Phạm Ngọc Thịnh và bác sĩ Phạm Văn Phú đã đi gõ cửa những nơi chuyên môn chụp hình não bộ, nhưng đều bị thất bại. Cuối cùng, nhân duyên hội đủ, cô Thịnh gõ cửa đúng nơi, cửa liền mở ra.

Đó là nhờ cô bác sĩ Thịnh đã tiếp xúc được với ông Tiến sĩ Michael Erb và ông đồng ý bắt đầu chương trình thử nghiệm máy f-MRI với 2 thiền sinh tại đạo tràng Stuttgart là cô Minh Vân và anh Quang Nguyên vào tháng 4-2006. Tiếp theo sau đó, tháng 6-2007, chương trình chụp hình của chúng tôiTăng đoàn đã chính thức bắt đầu.
Rồi liên tiếp các năm sau đó (2008, 2009, 2010), chỉ một mình chúng tôi chụp hình não bộ. Cuối cùng, chúng tôi đã thực hiện được ước mơ chứng minh 4 Tánh mà trong kinh Bāhiya đức Phật đã giảng dạy ông Bāhiya. (Xem Bài đọc thêm số 1 ở trang 27 về Kinh Bāhiya)
Bốn Tánh này là: Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Xúc chạm, và Tánh Nhận thức biết. Đặc biệt nhất là chúng tôi cũng chứng minh được vùng Tầm và Tứ ở thùy trán.
Vào đầu năm 2010, Tiến sĩ Erb chụp hình chúng tôi khi thực hành 4 tiến trình Định:
 Định có Tầm có Tứ.
Định không Tầm không Tứ.
 Định Chánh niệm tỉnh giác.
Chân như Định, hay còn gọi là Định bất động (Akuppā Samādhi).
Qua sự thành công này, hai Tiến sĩ Michael Erb và Ranganatha Sitaram đã trưng bày kết quả về chụp hình não bộ của chúng tôi tại Hội nghị thứ 16 về Não bộ trong chương trình “Organization of Human Brain Mapping” (OHBM) được tổ chức tại Barcelona, Tây Ban Nha, từ ngày 6 đến 10 tháng 6 năm 2010. Năm sau, cũng vào tháng 6 năm 2011, công trình nghiên cứu này lại một lần nữa được trưng bày tại hội nghi OHBM lần thứ 17 tổ chức tại Quebec, Canada.
Đến đây, xem như ước mơ “chụp hình não bộ để chứng minh các vùng trong não bộ phù hợp với lời dạy của Đức Phật” đã trở thành sự thật.

Lý do thứ ba:
- Đã đến lúc…
Chúng tôi nghĩ rằng bây giờ đã đến lúc mình cần công bố những điều mình đã chụp hình được về não bộ của mình liên hệ đến các vùng mà trong kinh Đức Phật đã giảng, thí dụ: các vùng Vọng Tâm, Vọng Tưởng đã xảy ra như thế nào trong não bộ của con người. Và chúng đã xuất hiện như thế nào, lý thú nhất là trong khi đo não bộ năm 2008, chúng tôi đã áp dụng “Chú ý trống rỗng” để xem coi Tánh Xúc chạm hiện lên như thế nào qua sự dùng bản chải cào cánh tay của chúng tôi.
LUAN 2 A
Không ngờ kết quả lại đưa đến là: thay vì nó chỉ hiện ra Tánh Xúc chạm, nhưng ngược lại 4 Tánh cùng hiện lên trong một lúc, đó là:
1. Tánh Xúc chạm
2. Tánh Nghe
3. Tánh Thấy
4. Tánh Nhận Thức.
LUAN 2
Nhân duyên tham dự Hội Nghị Não Bộ vào tháng 6 năm 2010 tại Barcelona
Vào tháng 12 năm 2009, chúng tôi đã liên lạc với thiền sinh Quang Chiếu tại Đạo Tràng Tánh Không Stuttgart, Đức quốc, để yêu cầu ông Dr. Erb cho chúng tôi chụp hình não bộ vào đầu năm 2010 thay vì chụp hình vào tháng 6 năm 2010 theo chương trình đã qui định. Cuối cùng chúng tôi được ông Dr. Erb chấp thuận chụp hình vào đầu năm 2010. Từ 8 giờ sáng ngày 3 tháng Giêng năm 2010, chúng tôi và Quang Chiếu cùng với Tuệ Giác và cô Triệt Huệ đã có mặt tại phòng chụp hình não bộ. Đây là lần chụp hình dài nhất. Đến 3 giờ chiều, ông Dr. Erb mời chúng tôi vào phòng làm việc của ông và nói với chúng tôi rằng kỳ chụp hình não bộ này rất tốt, sau đó ông hỏi chúng tôi: “Thầy có muốn đưa hình não bộ của Thầy đi tham dự Hội Nghị Não Bộ vào tháng 6 năm nay tại Barcelona không ?” Với câu hỏi bất ngờ đó, chúng tôi nghe xong, liền có một số câu kiến giải ngay, chúng tôi liền trả lời ngay tức khắc với ông bằng một thái độ ôn tồn, tỏ vẻ như mình đã biết trước những chuyện đó rồi. Chúng tôi gật đầu đáp: “Vâng. Muốn chớ ! Yes. I want to !”
Thế là tháng 6 năm đó, lần đầu tiên một “ông Tăng nông dân” đi dự Hội Nghị Não Bộ quốc tế lần thứ 16 tại Barcelona, Tây Ban Nha.

Quay về quá khứ
Còn nhớ những năm dạy thiền sinh từ lớp Căn Bản đến những lớp Bát Nhã, chúng tôi đã vẽ đồ hình trình bày về hoạt động của não bộ qua 4 tánh: Tánh Thấy ngay tại thùy chẩm, Tánh Nghe ngay tại thùy thái dương, Tánh Xúc chạm ngay tại thùy đỉnh, và Tánh Nhận thức biết nằm giữa ngay tại thùy đỉnh. Trong đó có một cô thiền sinh hỏi rằng: “Thầy có chắc chắn là vùng đó là vùng Nhận thức biết không ? Vì ở đây ‘nói có sách mách có chứng,’ tức là giảng điều gì phải có bằng chứng xác thực mới được, chớ giảng như Thầy và vẽ như vậy, ai đâu mà tin.” Hơn nữa, khi mô tả về huệ lực, chúng tôi vẽ gạch ngang một đường thẳng, tượng trưng mặt ngoài của vỏ não, dưới đường thẳng chúng tôi vẽ nhiều hình mũi tên tượng trưng cho huệ lực bật lên. Lúc đó chúng tôi muốn mô tả huệ lực nằm ngay dưới đáy của Tánh Nhận thức biết. Bằng cách thực hành kích thích Tánh Nhận thức biết, thì huệ lực sẽ từ từ phát huy. Khi giảng tới đây, có một thiền sinhbác sĩ y khoa nói: “Thầy ơi, ở đây tụi con cũng là người trí thức, Thầy giảng vậy làm sao tin được !” Lúc đó có một vị bác sĩ khác nói: “Thôi, anh đừng hỏi Thầy vô chỗ kẹt, làm sao Thầy chứng minh được. Mình nghe Thầy giảng như vậy, mình hiểu là được rồi.” Nghe xong, chúng tôi liền nói: “Cám ơn bác sĩ đã lưu ý chúng tôi điểm này, sắp tới đây trong chương trình Ra mắt sách tại San Jose, xin mời bác sĩ đến tham dự, chúng tôi sẽ trình bày những bằng chứng mà chúng tôi đã âm thầm làm việc trong nhiều năm qua với Tiến sĩ Michael Erb tại trường Đại học Tuebingen.”
Đến năm 2008, trong kỳ Ra Mắt Sách “Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học,” chúng tôi đã công bố vùng Precuneus nằm ngay tại vỏ não của Thùy đỉnh, thật sự là nguồn của huệ lực.
HÌNH VÙNG PHẬT TÁNH (PRECUNEUS) NẰM BÊN TRONG GIỮA NÃO NGAY
TẠI THÙY ĐỈNH HIỆN LÊN, KHI THẦY ÁP DỤNG KỸ THUẬT TỈNH THỨC BIẾT

Lý do thứ tư:
- Muốn mượn khoa học về thần kinh (Neuroscience) để chỉ bày tác dụng của Thiền đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh của con người thật sự diễn tiến như thế nào khi ta thực hành đúng pháp. Ngược lại, khi ta thực hành sai pháp thì đưa đến gì cho thân tâmtrí tuệ tâm linh của ta.
Hỏi: - Thực hành đúng pháp là sao ? Kết quả như thế nào ?
Đáp: - Dù chúng ta dụng công kỹ thuật nào, cũng sử dụng cái Biết không lời, tín hiệu sẽ truyền vào Dưới Đồi, đến Đối giao cảm thần kinh, từ đò tiết ra chất sinh hóa học Acetylcholine, sau đó tác động dây chuyền đến hệ thống tuyến nội tiết và nội tạng. Như thế kết quả là thân hài hòa, tâm hài hòa và trí tuệ tâm linh sẽ từ lần triển khai.

Hỏi: - Còn thực hành sai pháp là sao ? Và kết quả như thế nào ?
Đáp: - Khi chúng ta nỗ lực, hay khi tập trung chú ý vào 1 đối tượng, hay tưởng tượng, hoặc tự kỷ ám thị, tức là ta sử dụng vùng biết có lời thuộc tiền trán, lúc đó tín hiệu sẽ tác động Giao cảm thần kinh, đầu dây Giao cảm tiết ra Norepinephrine, kết quả là thân bệnh tâm thể, tâm bất an và trí đó là trí thế gian mà thôi.

Lý do thứ năm:
- Muốn mượn khoa học để đối chiếu lời dạy của đức Thế Tôn, dù cho đã trải qua hơn 25 thế kỷ, nay vẫn còn có giá trị, nhất là trong những quốc gia tiến bộ về khoa học và kỹ thuật.

Hỏi: - Xin giải thích lý do này ?
Đáp: - Đối với những người có đầu óc khoa học, chúng ta cần giải thích rõ ràng, cần chứng minh cụ thể, với những hình ảnh, thiết bị tân tiến, thì họ mới tiếp thu dễ dàng.

Hỏi: - Xin Thầy giải thích cụ thể về Pháp nào trong Phật Giáođến nay vẫn còn có giá trị ?
Đáp: - Thí dụ như những Pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ như phápDuyên Khởi, Pháp Duyên Sinh. Trong đó Ngài trình bày một trật tự về những diễn tiến của hiện tượng thế gian. Chúng tương tác lẫn nhau mà hình thành hay chấm dứt, trong đó không có bàn tay của thần linh hay đấng tạo hóa nào bố trí hay sắp xếp. Ngoài ra, 3 đặc điểm của hiện tượng thế gian là: vô thường, khổ hay xung đột, vô ngã hay không thực chất tính cũng là những qui luật mà Đức Phật đã chứng ngộđến nay vẫn còn giá trị.

Hỏi: - Xin Thầy giải thích “chứng ngộ” là gỉ ?
Đáp: - Chứng ngộ (enlightenment) là sự kiến giải từ vùng Tâm Tathā, hay từ Phật tánh, hoặc vùng Precuneus, về những điều gì mới lạ chưa được ai công bố. Nó không phải do nơi sự kiến giải của vùng ý thức, ý căntrí năng. Mà cũng không phải do sự kiến giải của vùng 3 tánh: thấy, nghe và xúc chạm của tánh giác. Do đó, những điều chứng ngộ này là những chân lý mãi mãi thích hợp với mọi thời đại và mọi không gian.

Hỏi: - Thưa Thầy, Phật pháp có phải là một triết lý không ?
Đáp: - Thông thường người ta cho rằng sự chứng ngộDuyên khởiPháp Duyên sinh của Đức Phật là một triết lý . Rồi nhiều nhà luận giải về Phật pháp xoáy trọng tâm về quan điểm triết học, để nâng cao giá trị của Lý Duyên khởi - Pháp Duyên sinh thành một triết học. Như trước đây hơn nửa thế kỷ, ông Hồ Thích, (một nhà Phật học nổi danh tại Trung Hoa lục địa vào thời Tưởng Giới Thạch) cùng với ông Suzuki (một nhà Thiền học Nhật bản sinh sống tại Anh quốc) đã tranh luận với nhau chung quanh đề tài: “Lý Duyên Khởi- Pháp Duyên sinh là một triết học.” Đó là theo quan điểm của ông Hồ Thích. Ông Suzuki thì cho rằng sự chứng ngộ của Đức Phật không phải là một triết học.
Thực ra, triết học đặt trên nền tảng của tư duy biện luận của vùng ý thức, ý căntrí năng. Cho nên giá trị của triết học chỉ thích hợp trong một thời gian hay một không gian giới hạn, nó không tồn tại mãi mãi. Thí dụ những quan điểm của các triết gia: Socrates, Aristotle, Plato, Khổng Tử, hay Karl Marx chỉ có giá trị trong một thời gian nào đó, vì nó chỉ là sản phẩm của cái Ta. Trong lúc đó, sự chứng ngộ xảy ra qua quá trình đột biến của phản xạ thụ động (passive reflex) từ vùng Phật tánh (hay vùng Precuneus). Nơi đó không có thông qua một mảy may suy nghĩ, biện luận, hay phân biệt.

Tóm lại, đây là 5 lý do tạo ra luận này.
Mong rằng tập sách “Luận Giảng Vấn Đáp Về Thiền Và Kiến Thức Thời Đại” sẽ giúp ích được phần nào quí vị muốn hiểu Thiền Phật Giáo và muốn thực hành để kinh nghiệm những sự chuyển đổi tâm tánh, cân bằng thân - tâm và phát huy trí huệ tâm linh của chính mình.


BÀI ĐỌC THÊM
Lời mở đầu. - Để hỗ trợ việc tiếp thu kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học có liên hệ đến sự thực hành Thiền, ngoài những bài giảng chính, chúng tôi soạn thêm một số bài giảng phụ, gọi là Bài Đọc Thêm. Nội dung Bài Đọc Thêm gồm nhiều chủ đề, kể cả thuật ngữ, liên hệ đến Kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học, mà trọng tâm là bổ sung ý nghĩa của bài giảng chính. Trong những giờ rổi rảnh, quí vị có thể đọc thêm những bài đó để tăng cường kiến thức thiền họctrợ duyên việc thực hành thầm lặng của chính quí vị mỗi khi quí vị thực sự có điều kiện thực hành.
Theo phương pháp hồi đáp (feedback method), kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học là 4 phương tiện cần thiết cho mỗi giai đoạn tu tập của thiền sinh sơ cơ hay trung cấp. Nó được xem như phương tiện thiết thựchiện đại của nhà du hành tâm linh ở ngưỡng cửa thế kỷ 21.
Mong những bài đọc thêm này giúp ích quí vị mới bắt đầu dấn thân vào đường Thiền nắm rõ trọng tâm và trọng điểm cách học và hành thiền theo phương pháp hồi đáp, ngõ hầu vững tin hơn vào cuộc hành trình “về nhà thầm lặng” của riêng mình mà không sợ bị lạc lối.


Bài đọc thêm
số 1
KINH BĀHIYA
Kinh Bāhiya là bài kinh Phật dạy liên hệ đến những chức năng bên trong cơ chế tánh giác gồm tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và nhận thức không lời. Đây là bài kinh được chúng tôi rút ra từ trong kinh Phật Tự Thuyết, Chương 1 Phẩm Bồ Đề, thuộc Tiểu Bộ Kinh của kinh tạng Pāli, thuộc hệ kinh Nguyên Thủy.
Bài kinh này nói lên trường hợp triệt ngộ tức khắc của ông Bāhiya qua sự lắng nghe Phật giảng với điều kiện tâm của ông Bāhiya có mang một mối nghi lớn là làm sao để đạt được hạnh phúc an lạc lâu dài. Sau khi nghe Phật giảng, ông đã thấu đáo tức khắc điều đó và đắc quả A la hán.
Sơ lược tiểu sử ông Bāhiya
Ông Bāhiya là vị A la hán vào thời Phật Thích Ca Gotama. Ông mang tên này vì ông sinh trưởng tại ngôi làng tên Bāhiya ở Bhārukaccha. Ông cũng được người đời gọi là Dārucīriya vì trước khi đắc quả A la hán, ông đã mặc áo làm bằng vỏ cây. Dāru = cây; cīriya = vỏ cây. Dārucīriya = Người mặc vỏ cây.
Khi còn là người chưa tu, ông là một thương nhân. Ông đi buôn bằng thuyền. Ông đã 7 lần vượt sông Indus băng qua biển để đi buôn. Trong 7 lần đều thành công cả 7. Đến lần thứ 8, trong khi đi đến thương cảng ở Suvaṇṇabhūmi, tàu ông bị đắm chìm giữa biển. Hàng hóa và của cải vàng bạc của ông đều chìm mất hết. Tất cả thương nhân trên tàu đều chết. May mắn cho ông là ông ôm được tấm ván. Sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, chiến đấu với tử thần, ông đã tấp vào bờ biển Suppāraka với tấm ván. Khi đến bờ, ông không còn quần áo để che thân. Ông nhặt nhánh cây nhỏ và vỏ cây kết lại thành khố để che thân. Sau đó ông lên bờ và đi khất thực. Dân vùng biển Suppāraka thấy ông ăn mặc vỏ cây nên gọi ông là “người mặc vỏ cây” (Dārucīriya). Hiểu được hoàn cảnh của ông là người vừa thoát chết sau chuyến tàu chìm, dân chúng kẻ ít người nhiều, tùy theo phương tiện của mình đã cúng dường thức ăn, thức uống cho ông với sự tôn kính. Thấy ông không áo quần, dân vùng biển cúng dường áo quần và nhiều vật dụng đáng giá khác, nhưng ông từ chối. Ông chỉ nhận đủ số cần dùng. Nhờ vậy uy tín của ông càng lên cao. Ít lâu sau đó, dân vùng biển nghĩ rằng ông là một vị A la hán. Sau cùng, chính ông cũng cho rằng ông là vị A la hán hay là người đang đi trên đường A la hán.
Lúc bấy giờ có một thiên nhân (devatā), trước kia là bà con ruột thịt với ông Bāhiya, trong một đêm khuya, thiên nhân này hiện ra và nói cho Bāhiya biết rằng, ông không phải là A la hán, cũng không phải là người đang đi trên đường A la hán. Nếu muốn đi trên con đường A la hántrở thành vị A la hán, thiên nhân này cho biết là ông nên mau mau đến Kỳ viên Tinh XáXá Vệ (Sāvatthi) để gặp ngay đức Phật. Phật sẽ giảng cho ông biết làm thế nào để đi trên đường A la hán, làm thế nào để có lợi lạc cho chính ông trên đường tâm linh.
Nghe vậy, ông Bāhiya liền quyết tâm đi đến Xá Vệ (Sāvatthi) ngay. Mặc dù bờ biển Suppāraka cách xa Xá Vệ khoảng 120 do tuần (1 do tuần (yojana = leagues) bằng 4 km. 120 x 4km = 480 km), với quyết tâm mãnh liệt, ông Bāhiya đi suốt đêm. Ông hy vọng gặp Phật để chính tai ông nghe Phật giảng cách làm sao để đạt được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Sáng sớm hôm sau ông đã đến Kỳ viên Tinh xá. Ông rất đổi vui mừng, tin tưởng sẽ gặp đức Phật để thưa hỏi. Nhưng ông được cho biếtđức Phật đã đi khất thực rồi. Với tâm trạng nôn nóng, ông liền bươn bả đi nhanh theo hướng đức Phật đang đi khất thực. Ông mong rằng khi gặp Phật, ông sẽ nghe Phật chỉ dạy cách tu. Khi thấy Phật đang chậm rãi đi, ông liền nhanh chân bước đến trước mặt Phật, quì xuống giữa đường, đảnh lễ sát dưới chân Phật, rồi ôn tồn thỉnh cầu Phật dạy pháp để ông được giải thoát.
Ông chắp tay thành tâm bạch:
- Bạch Thế Tôn, cầu xin Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Đức Phật chậm rãi đáp:
- Không phải thời, này Bāhiya, ta đang đi khất thực.
Ông Bāhiya tiếp tục cầu xin nữa.
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Lần thứ hai đức Phật cũng từ chối. Đức Phật cho biết là không phải thời để đức Phật giảng. Không chán nản, ông Bāhiya khẩn cầu lần thứ ba:
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Nhìn thái độ thành khẩn và lòng nhiệt tâm cầu pháp của Bāhiya, thấy đã đến lúc cần nói bài pháp thích hợp với tâm trạng đang mong đợi chờ nghe của ông Bāhiya, đức Phật liền chậm rãi nói những lời ngắn gọn. Ông Bāhiya chắp tay quì chú tâm lắng nghe lời Phật. Phật nói:
- Vậy này Bāhiya, ông cần phải học tập như sau: “Trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.” Như vậy, này Bāhiya, ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bāhiya, nếu với ông, trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bāhiya, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bāhiya, ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.
Kinh ghi tiếp: - Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bāhiya Dārucīriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
(Giải thích: - Tức là khi nghe Phật giảng xong, ông đã đắc quả A la hán. Đây là ông đã tức khắc nhận thức thấu đáo Chân lý. Trong Pāli gọi trạng thái này là “khippābhiññānaṃ,” tương đương tiếng Anh là “instantly comprehended the Truth.” Nói theo thuật ngữ Thiền Tông Trung Hoa, ông đã “triệt ngộ.”)

Sau đó, đức Phật đi khất thực. Riêng ông Bāhiya từ giã Phật... Không lâu sau đó, một con bò con húc vào ông Bāhiya. Ông chết. Khi Phật đi khất thực xong, sau buổi ăn trưa, trên đường đi khất thực trở về cùng chung với nhiều Tỳ kheo, Phật thấy ông Bāhiya nằm chết. Phật liền nói với các Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo, hãy lấy thân xác Bāhiya Dārucīriya đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỳ kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời !
(Giải thích: - Đồng Phạm hạnh, tức là cùng chung hạnh sống của bậc Thánh với các vị Tỳ kheo, đệ tử của Phật.)

Kinh ghi tiếp: - Sau khi các vị Tỳ kheo làm y theo lời Phật dạy xong, các ngài đến bạch Phật, yêu cầu Phật giải thích về trường hợp của ông Bāhiya.
Trước chư tăng, đức Phật công bố:
- Này các Tỳ kheo, Hiền trí là Bāhiya Dārucīriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỳ kheo, Bāhiya Dārucīriya đã nhập Niết bàn.

Những mắt xích đưa đến ngộ đạo

Giải thích:
- Trường hợp triệt ngộ (khippābhiññā) của ông Bāhiya do những điều kiện sau đây.
1. Tâm thuần
Trong những ngày sống ở bờ biển Suppāraka, tâm ông Bāhiya rất thanh tịnh. Tâm của ông không còn vướng mắc vào của cải, tài sản vật chất như trước kia ông đã say mê. Ông sống đạm bạc, biết đủ, giữ hạnh thanh tịnh như là hạnh sống của bậc Thánh. Nhờ vậy, ông được dân chúng vùng biển tôn kính như người có đầy đủ Phạm hạnh. Như vậy là tâm của ông đã thuần. Nó không còn lăng xăng dao động với các nhân duyên bên ngoài. Rồi qua đó, ông nghĩ rằng ông đã đắc quả A la hán hay là người đang tu theo con đường A la hán.
2. Khởi nghi
Nhưng một thiên nhân cho biết ông không phải là người đang đi trên đường A la hán. Thiên nhân báo cho ông biết ông nên đến Xá Vệ để gặp đức Phậtnghe lời chỉ dạy của Phật để đi đúng con đường A la hánđắc quả A la hán. Lúc bấy giờ ông mới nhận ra là những điều ông đã nghĩ về khả năng tu tập của ông là không đúng. Có người đang đi đúng Con Đường A la hán là Phật Thích Ca hiện đang ở tại Xá vệ. Ông mau đến đó để thưa hỏi.
3. Đại nghi
Sau đó ông quyết tâm đi đến Xá Vệ. Dù đoạn đường khá dài, ông chỉ đi trong 1 đêm. Trong quá trình đi suốt đêm này, tâm và trí của ông chỉ chứa một mối nghi. Đó là làm sao để được hạnh phúc an lạc lâu dài. Mối nghi này đã trở thành mối nghi lớn trong tâm ông. Ông hy vọng được giải tỏa khi gặp Phật. Đây là điểm cơ bản của ngộ đạo.
4. Vun bồi mối nghi
Đến khi gặp Phật, niềm vui đã dâng tràn lên trong tâm ông. Ông phát lên lời khẩn khoản thỉnh cầu Phật chỉ dạy. Ông cho rằng không còn kịp nữa, nếu Phật tịch hay ông tịch thì làm sao có cơ hội biết đường tu tập để được giải thoát. Như ông nói: “Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con.” Tuy nhiên, dù khẩn khoản thỉnh cầu, hai lần thưa thỉnh, Phật đều từ chối. Đây cũng là 1 tác nhân đặc biệt thử thách tâm ông. Không chán nản, lần thứ ba, ông thỉnh cầu nữa.
5. Hợp thời tiết nhân duyên
Lúc bấy giờ Phật nhận ra sự thành khẩn của ông Bāhiya. Phật biết rằng ông đang mong cầu nghe lời dạy của Phật. Phật cũng biết tâm của ông đã hoàn toàn vắng lặng và đang chờ Phật rót vào tai những lời thích hợp để ông đạt được giác ngộ hay hạnh phúc an lạc lâu dài. Thấy cơ duyên đã đến lúc, Phật đồng ý giảng cho ông nghe.
Ông mừng rỡ, sẵn sàng lắng tâm nghe lời giảng ngắn gọn của Phật. Bấy giờ ông Bāhiya đã nghe bằng tánh Nhận thức Biết không lời.
6. Giải tỏa mối đại nghi
Khi nghe giảng xong, tức khắc ông ngộ đạo. Ông đắc quả A la hán...
Trước chư tăng, đức Phật công bố Bāhiya đã triệt ngộ
7. Nguyên tắc kinh nghiệm giác quan
Điểm then chốt của bài pháp ngắn gọn này là nhấn mạnh đến nguyên tắc kinh nghiệm giác quan. Đó là khi giác quan kinh nghiệm được điều gì hãy để nó kinh nghiệm mà không để tự ngã can thiệp vào. Nếu biết khai thác nguyên lý này, ta cũng sẽ có kinh nghiệm ngộ đạo.
Trong kinh, Phật dạy: Trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.
Ở đây Phật dạy tự mình phải nhận ra 4 tánh trong cơ chế tánh giác.
“Trong cái thấy, chỉ là cái thấy.” Khi tiếp xúc với đối tượng, chỉ có tánh Thấy mà thôi. Trong đó không có “cái Ta.” Nếu có “cái Ta” là cái thấy không còn là cái thấy khách quan như thực nữa. Mà là “tôi thấy.” Đó là cái thấy bị “cái Ta” can thiệp vào.
Trong cái nghe, chỉ là cái nghe. Đây là cái nghe của tánh Nghe. Trong khi nghe, chỉ biết nghe mà không suy luận về nội dung âm thanh như thế nào.
“Trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng.” Đó là trong cái xúc chạm chỉ có tánh xúc chạm mà không có diễn dịch điều gì trong đó.
“Trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.” Đó là Phật dạy khi có nhận thức điều gì, chỉ giữ trạng thái nhận thức Biết không lời, mà không thêm nội dung gì trong đó. Đây là nhận thức trống rỗng về đối tượng.
“Do vậy, ông không là chỗ ấy.” Tức là chỗ đó không có tự ngã hay không có “cái Ta.” Vì chỗ đó chỉ là trạng thái thầm nhận biết khách quan của tánh giác nên không có “cái Ta.”
“Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.” Tức là nếu đạt được 4 trạng thái trên thì ông Bāhiya đạt được giải thoát ngay trong đời này. Điều này có nghĩa ông đã triệt ngộ nguyên lý Vô ngã nên ông đạt được Niết bàn khi còn sống, tức là đạt quả vị A la hán, sẽ không còn tái sinh trong đời sau.


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, June 18, 20242:30 PM(View: 283)
Người Phật tử có lòng tôn kính đức Phật, thường có lòng biết ơn cây bồ đề, mình lại nghĩ thêm rằng cây bồ đề biểu hiện cho trí tuệ giác ngộ, nên đã có lúc phóng tâm muốn có một cây bồ đề xanh tươi của riêng mình.
Wednesday, June 12, 20249:35 AM(View: 342)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 8 tháng 6, 2024 với chủ đề: PHÁP
Tuesday, June 11, 202411:40 AM(View: 633)
Mà bây giờ mình đã biết, cây nào cũng là cây giác ngộ, hoa lá, cảnh vật nào cũng hiển lộ thực tại cuối cùng. Vậy thì cây cảnh hoa lá nào cũng là "cây bồ đề", đâu có cái nào là của riêng mình đâu ?
Monday, June 10, 20241:27 PM(View: 358)
Từ ngữ Pháp, từ xưa tới giờ có rất nhiều ý nghĩa và ý nghĩa của nó rất rộng cho nên cô tạm gom lại để phân ra ba nội dung khác nhau tức là có thể xếp vào ba ý nghĩa khác nhau của từ Dhamma.
Sunday, June 9, 20249:11 PM(View: 236)
Als ich heute Nachmittag den Vorgarten des Sunyata-Zentrums betrachtete, der mit schwarzer und fruchtbarer Erde bedeckt wurde, fühlte ich mich glücklich. Liebe Freunde, wenn der Geist unbedeckt ist, strahlt das Weisheitslicht von selbst aus!
Saturday, June 8, 20249:28 PM(View: 379)
LA VOIE DE PERFECTIONNEMENT: LA VERTU, LA STABILISATION DU MENTAL, LA SAGESSE - Traduit en Français par Nhất Hòa et Marc Giang
Saturday, June 8, 20249:25 PM(View: 375)
LE PROCESSUS DE PRATIQUE PAR L'AUDITION ET LA VISION - Traduit en Français par Nhất Hòa et Marc Giang
Saturday, June 8, 20249:25 PM(View: 355)
LA VOIE DE PERFECTIONNEMENT DES BHIKKHUS AU TEMPS DU BOUDDHA - Traduit en Français par Nhất Hòa et Tâm Minh.
Wednesday, June 5, 20245:06 PM(View: 418)
Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất giúp thanh tịnh chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, quả là lời hứa tuyệt vời của đức Thế Tôn. Với pháp môn này, đức Phật dạy hành giả trực tiếp quán thẳng vào bốn xứ thuộc thân-tâm để nhận ra thân, thọ, tâm, pháp thực chất của nó là vô thường, bất như ý, vô ngã.
Monday, May 20, 202410:22 AM(View: 534)
La retraite de Sunyata Toulouse à Moissac, dans le sud-ouest de la France, est terminée et nous sommes retournés à nos vies quotidiennes. En revoyant les images de ces jours de paix, de sérénité et de bonheur, en compagnie d'amis méditants d'ici et d'ailleurs, mon cœur ne peut s'empêcher d'évoquer quelques attachements et souvenirs.
Monday, May 20, 202410:11 AM(View: 549)
Wenn der Geist ein Objekt wahrnimmt, nimmt er „was gerade ist“ wahr. Wenn er aber in sich kehrt, nimmt er „die Soheit „(Tathatā/ the Suchness) wahr. Hier endet alles, es gibt keine Worte, keine Schrift, keine Namen, keine Außenwelt, kein Denken, keine Diskriminierung, keine Liebe, keinen Hass mehr. Alles ist gleichwertig. Haben die Partriarchen Recht, dass „die Erleuchtung bereits im Augenkontakt liegt“?
Monday, May 13, 20245:16 PM(View: 574)
Thiền Chỉ, tiếng Pali là “Samatha”. Nó có một từ nữa mang nghĩa tương đồng gọi là “Samadhi”, tức là Định. “Chỉ” là dừng lại. “Thiền Chỉ” hay “Thiền Định” là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đề mục, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, tạo sự an vui (sukkha) hỷ lạc cho hành giả.
Thursday, May 9, 20244:00 PM(View: 932)
Chiều nay, ngắm nhìn khoảng sân rộng trước tổ đình sạch bót, một màu đen phì nhiêu, đất xốp, sẵn sàng chờ đón được gieo trồng, mình cảm thấy vui. Các bạn hiền ơi, đất tâm nếu trống không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu!
Wednesday, May 8, 20247:45 AM(View: 448)
Also: „Alle Dharmas kehren zu einem zurück, wo ist dieses Eine?“ Es kann sein, dass alle Dharmas zu dem Geist zurückgeht. Nun verstehen wir vielleicht, warum die Patriarchen damals gegangen sind, ohne jegliche Spur hinterlassen zu haben, als sie gegangen sind. Das Prajnaparamita-Sutra hat jedoch unendlich über die Leere, Illusion und Soheit berichtet.
Friday, May 3, 20246:55 PM(View: 576)
It is normal, natural, and reasonable that mundane phenomena emerge, change then terminate. If we could grasp that comprehension, when something appears or disappears, we are neither cheerful nor sorrowful. Then, our mind is serene and peaceful. And we realize that everywhere is our original adobe, every phenomenon, fact, event, situation or being, carries the truths of transience, the principles of cause-responded conditions, non-selfness, and the trait of bareness… The Dharma sounds from our Lord have been roaring and echoing in the infinite universe. As a result, the planet where we are now is the Buddha’s very realm, my dearest friends.
Thursday, May 2, 20243:30 PM(View: 1086)
Phải thông hiểu tới những chân lý rốt ráo: bản chất của thế gian là trống không, là như huyễn, do nhân duyên hội họp mà sinh ra, rồi sẽ thay đổi, và sẽ mất đi. Mình sẽ bớt dính mắc với những cảnh thăng trầm trong cuộc đời. Đây là trí tuệ xuất thế gian, giúp mình sống bình an trong đời.
Wednesday, May 1, 20246:56 AM(View: 681)
Der Wagen „mit einem Gang“ ist die wortlose Achtsamkeit (Sati), die uns vom Anfang bis zum Ende des Kultivierungsweges begleitet. In Wirklichkeit gibt es aber keinen Weg, der uns zur Erleuchtung bringt. Denn dieses wortlose Bewusstsein gehört uns von der Geburt an. Es war und ist rein, ruhig, klar und objektiv. Liebe Freunde, hole dieses wortlose Bewusstsein von Innen heraus. Suche es nirgendwo draußen.
Friday, April 26, 202411:42 AM(View: 887)
Khi nó thấy cảnh, thì nó thấy “cái đang là”. Khi nó an trú trong chính nó, thì nó thấy “cái như vậy” (Tathatā/ the Suchness). Bây giờ, mọi sự đều chấm dứt, không có lời nói, không có văn tự, không có tên gọi, thế gian cũng không còn. Không suy nghĩ, không phân biệt, không thương ghét, tất cả tan biến, bình đẳng. Có phải cổ nhân đã nói đúng “chạm mắt là bồ đề”?
Sunday, April 21, 20242:20 PM(View: 1491)
Vậy thì “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” có thể là muôn pháp đều về tâm, còn nếu thắc mắc: tâm về chỗ nào? Thì ăn gậy là phải rồi. Bây giờ mới hiểu tại sao chư Thiền Đức ngày xưa ra đi không cần lưu lại dấu vết mà hê thống kinh Bát nhã ba la mật lại viết tràng giang đại hải về Không, Huyễn và Chân Như. Có phải vì chỗ đó ngoài ngôn ngữ, còn nếu dùng ngôn ngữ thì nói hoài cũng không xong?
Saturday, April 20, 20246:38 AM(View: 712)
Also durch die Sinnesorgane nehmen wir also, „was gerade ist“, eine reale Sache wahr, das heißt, wir nehmen es wie eine reale Sache, obwohl es nicht echt ist. Ebenso ist ihre Stabilität, ihre Dauerhaftigkeit eine „Illusion“... Das Reale besteht darin, Phänomene durch die Sinnesorgane wahrzunehmen und die Illusion besteht darin, die Essenz eines Phänomens durch eine Weisheit zu verstehen.
Wednesday, April 17, 20242:27 PM(View: 803)
Tu tập theo đạo Phật không phải để sở hữu được điều gì, mà thực ra là để buông xả không bám víu với bất kỳ những gì ở trên đời... mà chỉ nhận biết rõ ràng pháp đến rồi đi, đó là điều tự nhiên của vạn pháp. Và sự đến đi đó, là bài học “sinh diệt, vô thường, vô ngã” giúp cho chúng ta không bị dày vò phiền não khi nghịch cảnh đến, hoặc quá đắm chìm mê say hưởng khoái lạc, khi duyên thuận lợi đến với mình, mà phải sống trong trung đạo vừa phải.
Tuesday, April 16, 202411:33 AM(View: 781)
Therefore, with our senses, we feel the “what-is.” It is the “As-Is Truth,” “Yathābhūta,” which is akin to the Truth, but it is not truly stable and permanent. It is also the “As-Is Delusion,” akin to a dream... The “As-Is Truth,” is the phenomena perceived by human senses and the latter, the “As-Is Delusion,” the Nature recognized by the Prajña Wisdom.
Sunday, April 14, 20245:07 PM(View: 1507)
Cảnh sanh khởi, biến đổi rồi hoại diệt của thế gian là tự nhiên, là bình thường, là hợp tình hợp lý. Nếu hiểu thật sự điều này thì khi cái gì đó sanh ra hay diệt mất, ta không vui cũng không buồn. Bây giờ tâm bình an, thanh thản, bây giờ mới thấy nơi nào cũng là ngôi nhà xưa của mình, cảnh nào cũng hiển lộ những chân lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, bản thể trống không… Pháp âm của Phật vang rền khắp hư không, như vậy cõi này đang là cõi Phật đó, bạn hiền ơi.
Saturday, April 6, 202410:03 AM(View: 578)
Nur einfach die Augen aufmachen und das Objekt wahrnehmen, wie es ist, mit verbalem oder nonverbalem Bewusstsein, der Geist ist rein, ruhig und objektiv. Das ist der Naturgeist. Gebote, Kontemplation, Samatha, Samadhi und Weisheit sind vollständig in ihm vorhanden.
Saturday, April 6, 20248:52 AM(View: 1356)
... chiếc “xe một số” chính là cái Biết, nó đưa ta từ bước đầu tới bước cuối con đường. Thực ra, có con đường nào đâu, vì cái biết là của mình, từ đầu nó vẫn trong sạch, tĩnh lặng, khách quan và chiếu sáng. Bạn hiền ơi, cứ lấy viên ngọc đó ra mà xài, hồn nhiên, đừng lăng xăng tạo tác gì thêm nữa.
Friday, April 5, 20246:46 PM(View: 614)
Bài Luận giảng này cho chúng ta biết rằng: điểm quan trọng bậc nhất của Thiền chỉ là làm chủ tâm ngôn. Không làm chủ được tâm ngôn, dù chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, đường Thiền của ta sẽ đến nơi bế tắc.
Thursday, April 4, 20241:07 PM(View: 820)
In Spring 1929, we cheered our Master’s coming into life. In Spring 1982, we celebrated the glory of our Master’s Recognition of the Path. In Winter 2019, he left us... But with those, this morning, under warm sunlight, while relishing the spring flowers, how come it seems someone’s eyes are full in tear.
Friday, March 29, 20247:58 PM(View: 1061)
Vậy qua giác quan, ta thấy “cái đang là”, đó là thấy Như Thực, giống như thiệt, chứ không phải thiệt có bền vững, thường hằng, mà đó cũng là “cái Như Huyễn”, như mộng mà thôi. ...cái Như Thực là thấy hiện tượng qua giác quan, còn cái Như Huyễn là thấy bản thể qua trí tuệ bát nhã.
Wednesday, March 27, 20246:45 AM(View: 696)
Heute, ein Frühlingsmorgen, blauer Himmel, weiße Wolken, warme Sonne und volle Kirschblüten vor dem Hof ​​des Sunyata Zentrums, möchte ich euch einen Meditations-Laib: Gebote, Samadhi und Weisheit anbieten, der aus dem reinen Wissen eines Naturgeistes gemacht wurde.
Monday, March 25, 20249:43 AM(View: 757)
La nature du monde est vide, est vacuité. Ce n'est juste qu'une illusion. Cette sagesse nous donne la capacité de séparer notre mental de tout attachement au monde. Ce n’est qu’alors que l’on peut demeurer dans la conscience "Ainsi". Lorsque nous possédons la sagesse et la perspicacité pour reconnaître la nature du monde, alors il n’y a plus de chemin, plus besoin de dharma, plus de portes à ouvrir. Nous vivons vraiment dans notre maison spirituelle qui existe depuis toujours en nous.
Sunday, March 24, 20245:02 PM(View: 981)
Mùa xuân năm 1929, mừng Thầy đến, mùa xuân năm 1982, mừng Thầy thấy rõ con đường, mùa đông năm 2019, Thầy đi.... ...Biết vậy, mà sao sáng nay, trong nắng ấm, ngắm hoa xuân, lại dường như có ai rơi nước mắt.
Sunday, March 24, 20244:44 PM(View: 892)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: CON ĐƯỜNG GIỚI QUÁN ĐỊNH TUỆ ngày 16 tháng 3 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Sunday, March 24, 202410:27 AM(View: 729)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Luận giảng số 1 GIỚI THIỆU CÁCH THỨC TẠO LUẬN
Sunday, March 17, 20243:11 PM(View: 847)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Lời Tựa
Sunday, March 17, 20242:16 PM(View: 1033)
Chỉ là đơn thuần, mở mắt ra nhìn ngắm, cảnh thế nào nhận biết y như vậy, diễn nói hay thầm lặng, tâm đều trong sạch, tĩnh lặng, khách quan. Đó là chân tâm, Giới, Quán, Chỉ, Định, Tuệ đầy đủ
Wednesday, March 13, 20249:44 AM(View: 803)
Unzählige Jahre habe ich törichterweise nach einem „Märchenland im Jenseits des Nebels“ gesucht. Wie oft bin ich dem Nebel begegnet und wie oft habe ich davon geträumt, ein Märchenland zu finden. Am Ende meines Lebens wurde es mir klar, dass das wahre Märchenland nirgendwo draußen ist, sondern es ist in mir.
Wednesday, March 13, 20249:16 AM(View: 795)
Les quatre niveaux du jhana (état mental), à travers lesquels le Bouddha a réalisé la Triple Connaissance, sont également connus comme “les quatre niveaux du Samadhi”. C’est ainsi que nous comprenons que le Samadhi joue un rôle important dans le Zen bouddhiste. Il est le passage obligé pour l'exploration du vaste firmament de la Sagesse transcendante.
Sunday, March 10, 20244:31 PM(View: 1211)
Các bạn hiền ơi, sáng nay, một buổi sáng mùa xuân, nắng ấm, hoa mai đang nở rộ trước sân Tổ đình, trời xanh và mây trắng. xin dâng tặng cho bạn ổ bánh Thiền Giới Định Tuệ, làm bằng cái Biết trong sáng của chân tâm.
Wednesday, March 6, 202410:36 AM(View: 1062)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: VẤN ĐỀ SINH TỬ ngày 17 tháng 2 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, March 6, 202410:20 AM(View: 735)
Nghĩa chữ “tu” không chỉ là sửa đổi hành động từ xấu sang tốt, mà chữ tu còn mang ý nghĩa là “thực tập” hay “hành trì” một pháp môn nào đó.
Tuesday, March 5, 20242:20 PM(View: 1161)
Research works from Dr. Michael Erb on the mapping of the brain of Master Reverend Thích Thông Triệt Những đo đạc sau cùng của Thiền sư Thích Thông Triệt đã được thực hiện vào ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2013. Tôi tường trình ở đây một số kết quả từ những thực nghiệm này kết hợp với kỹ thuật chụp ảnh chức năng cộng hưởng từ (f-MRI) và điện não đồ (EEG, 256 channels).
Wednesday, February 28, 20244:27 PM(View: 987)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: GẶP GỠ ĐẦU NĂM mùng 3 TẾT Giáp Thìn 2024 tại TỔ ĐÌNH TÁNH KHÔNG
Tuesday, February 27, 20249:03 AM(View: 844)
La Sagesse, ici je veux dire le Vipassanā, la Vue profonde. Dans les limites de cet article, je passerai en revue le Satipaṭṭhāna sutta, Le récit de l’attention vigilante, extrait de la corbeille Nikāya. Bien que les gens disent toujours "Contemplation des Quatre Fondements de l’attention" et que, dans le sutra, il est aussi dit “Contempler le corps” (Kāya-anupassanā) etc. De nos jours les vénérables moines classent le sutra “Le récit de l’attention vigilante” dans le Vipassanā c'est à dire appartenant à la Sagesse. Donc, dans cet article, je le définirai aussi temporairement comme la Sagesse, c'est-à-dire utiliser la sagesse pour pratiquer
Saturday, February 24, 20249:13 PM(View: 957)
Tâm trong đạo Phật được giảng giải rất chi tiết tùy theo các tông phái trong đạo Phật. Bài viết này chỉ nhằm đáp ứng cho các Phật tử mới bắt đầu học Phật, giúp các bạn nhận ra tâm là gì?
Thursday, February 22, 20247:52 AM(View: 1182)
Khi biết mà không dính với tất cả những pháp thế gian hạnh phúc hay phiền lụy, thì ngay khi đó tâm trở về trạng thái tĩnh lặng, cái biết tự tánh sẽ hiển lộ, đây là cái biết của trực giác. Cái biết trực giác này sẽ phát huy đến vô lượng, đưa người thực hành vượt qua bể khổ đến bờ giác ngộ giải thoát...
Tuesday, February 20, 20243:56 PM(View: 1030)
Lời ngõ: Loạt bài viết về các tầng Thiền của Đức Phật được trích từ quyển sách "Tiến Trình Tu Chứng Của Đức Phật" do Hòa Thượng Thích Thông Triệt biên soạn đã được phát hành lần đầu tiên năm 2005 và tái bản lần thứ nhì năm 2007. Mục đích của loạt bài viết này nhằm giúp cho Thiền sinh ôn lại phương thức thực hành đúng như lời Phật dạy. Kỳ này bài viết chỉ rõ phương thức thực hành để chuyển đổi từ tâm phàm phu sang tâm bậc thánh. Nếu không nắm rõ kỹ thuật thực hành thì xem như đường tu bị bế tắc đành phải chờ một duyên lành vậy.
Thursday, February 15, 20247:20 AM(View: 1291)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: MÓN QUÀ ĐẦU NĂM ngày mùng 2 TẾT Giáp Thìn 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, February 14, 20243:55 PM(View: 968)
A propos de la contemplation, il existe plusieurs variantes. Dans ce qui suit, je n’aborderai que l'Anupassanā, qui consiste généralement à contempler les phénomènes du monde de manière continue pour en saisir leur nature ou leurs caractéristiques qui sont: l’impermanence, la souffrance, le non-soi.
Wednesday, February 14, 20243:29 PM(View: 1050)
Nach der erlangten Erleuchtung ging der Buddha zum Wildpark, um den fünf Brüdern des Ehrwürdigen Kondanna die ersten Dharma-Sutras zu predigen, darunter das Sutra *Die Merkmale des Nicht-Ich*
Friday, February 9, 20249:04 AM(View: 894)
So geht ein Frühling nie zu Ende. Auch wenn er einen anderen Namen wie Sommer, Herbst oder Winter hat, ist er immer der Frühling im Geist eines jeden. Wenn wir ihn Frühling nennen, ist er der Frühling. Wenn wir ihn nicht Frühling benennen, gibt es dann keinen Frühling, und wenn es keinen Frühling gibt, gibt es keine Jahreszeiten.
Tuesday, February 6, 20243:13 PM(View: 882)
Mùa xuân cũng vậy, không bao giờ chấm dứt, trong tâm mỗi người. Dù cho nó có tên là hạ, thu, hay đông đi nữa, nó cũng là xuân. Khi mình gọi là Xuân thì là Xuân của mình. Khi mình không gọi gì hết thì không có mình, cũng không có xuân, và cả thế gian cũng biến mất.
69,256