TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn.
Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK:
https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Muốn đạt được “Trí tuệ vô lậu”, hành giả phải tu học, hành trì ba môn Vô lậu Giới-Định-Tuệ, là pháp môn mà Đức Phật đã đi qua và thực chứng trí tuệ ba minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh) dưới cội Bồ đề.
Chinese Chan Buddhism is regarded as having begun with its First Patriarch, Bodhidharma, an Indian monk, via the “lion’s roar” awakened people to return to their original mind and recognize their inherent nature—empty, quiescent, and luminous.
Năm nay khóa tu cũng tổ chức tại tư gia của Tâm Như- Chúc Khương, tất cả ni đoàn cũng tạm trú tại đây. Tuy khóa tu chỉ có ba ngày cuối tuần, các em cũng ở lại đêm cuối sinh hoạt chung. Cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, những giọng ca 70, 80 cũng chan hòa nhau trong niềm vui sum họp rồi chia tay và lại hẹn gặp nhau năm tới.
Năm nay khóa tu thứ nhất tổ chức tại chùa Quang Minh như thường lệ, chắc cũng 10 năm rồi. Khóa tu kéo dài trong 5 ngày, từ thứ tư 8 tới chủ nhật 12 tháng 10. Sau đó là khóa tu thứ hai tổ chức tại thành phố Melton, thiền viện Như Huyễn do sư cô Như Minh điều hành. Khóa tu thứ hai trong 7 ngày, từ thứ hai 13 tới chủ nhật 19.
Khi tổ chức một khóa tu, vấn đề quan trọng là chọn nơi chốn thích hợp, sau là vấn đề ăn uống. Ở Lake Tahoe này khung cảnh thích hợp cho khóa tu thiền, tĩnh lặng, không thấy người, mỗi nhà cách nhau quãng rừng thông, không có xe chạy...
Tâm Đà La Ni...
Buồn chi cho khổ...
Tâm tĩnh lặng rồi...
Thấy khổ... cũng... không...
Om… ánh sáng nhiệm mầu… dẫn đường con về…
Namo Ratna Trayāya
Namo Ārya Avalokiteśvarāya
Bodhisattvāya
Mahāsattvāya
Mahākārunikāya
...
Bao văn tự chữ nghĩa mênh mông, dù không đến nỗi quá vô minh, nhưng cuối cùng khi trong trạng thái hoang mang chỉ còn thấy giữ tâm hồn thanh thản, đừng vướng mắc, mong cầu hay khao khát, cứ phó mặc cho pháp tự vận hành và thấu hiểu dám hành trì mỗi một chữ Buông.
Con nay hiểu ra rằng chúng ta sống chung quanh các hiện tượng thế gian và tiếp xúc với hiện tượng thế gian trong từng sát na thời gian, cũng chính ta tác động đến qui luật nhân quả giữa ta và hiện tượng ấy, không làm sao mà khác đi được.
Chân như có nghĩa thực tại chân thực (True Reality). Không có gì cộng vào trên nó nhưng cũng không có cái gì trừ đi trên nó. Nó chỉ là như vậy. Bản tính của nó là bất biến, bất động và thường hằng an trụ, không có gì thêm hay bớt trong nó. Vì nó không có sức chứa bất luận thứ gì. Nó ngoài tất cả lời. Nó là cái không tên. Nó chỉ có nghĩa như thế là như thế.
Thân gửi các anh chị một bài viết mới. Như Chiếu thay mặt đạo tràng Montreal xin gửi lời cám ơn tất cả các cô chú, anh chị đã đóng góp thời gian, công sức cho website của Thiền Tánh không, cũng như đã chia sẻ những kiến thức cùng trải nghiệm tu chứng của bản thân cho Mục 'Cùng nhau Tu học' nhằm giúp thiền sinh khắp nơi vững bước trên con đường tâm linh tu tập.
1. Lòng biết ơn trong lịch sử và văn hóa: nhiều hình thức, ba chức năng
2. Phật Giáo: lòng biết ơn được Thế Tôn tái cấu trúc như thế nào?
3. Hai điều kiện căn bản: thân người khó được và Chánh Pháp khó cầu
4. Lòng biết ơn có tác dụng nâng đỡ Bát Chánh Đạo
5. Một vài ví dụ thực tập cụ thể cho người Phật tử rèn luyện Lòng Biết Ơn theo ý nghĩa Phật chỉ dạy
6. Hãy Sống Trọn Vẹn 365 ngày Thanksgiving trong tinh thần Phật giáo
:
NIỆM, CHÁNH NIỆM, CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC Dù là những danh từ chết, thuật ngữ vẫn là những danh từ chuyên môn của một bộ môn. Tác dụng từ chuyên môn này nhắm giúp người mới bắt đầu đi vào ngành chuyên môn hiểu được thực chất các từ ngữ chết đó nói lên ý nghĩa gì, công dụng ra sao... Khi hiểu sai, sự dụng công của ta dễ dàng đưa đến sai. Tất nhiên kết quả sẽ trái với điều ta mong muốn
Lý do chủ yếu của những nỗi thống khổ đó là do ta có cái nhìn lầm lạc (a perverted vision) về cuộc đời, về thế gian và hiện tượng thế gian; đặc biệt nhất là ta lầm lạc đối với chính ta.
Thiền giúp cho cuộc sống con người được hài hòa cùng với môi trường chung quanh. Đó là những sự hài hòa giữa thân và tâm của cá nhân, hài hòa giữa cá nhân này với cá nhân kia, và hài hòa giữa cơ thể của cá nhân với thời tiết trong thiên nhiên.
Năm 2010, Thầy Thiền chủ Thích Thông Triệt đã cho phát hành quyển sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học. Thầy mượn thiết bị hay phương tiện Khoa học Tây phương để chứng minh lời dạy hay Pháp của Đức Phật, thật sự đã tác động vào đâu trên vỏ não, trong giữa não, trên hệ thần kinh tự quản, trong tuyến nội tiết. Người hành Thiền sẽ có kinh nghiệm như thế nào trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh của chính mình trong khi thực hành Thiền.
Hầu hết những bài ghi lại trong Tập 2 là những bài Thầy Thiền Chủ đã giảng từ năm 1995 cho trình độ Căn Bản, thích hợp với người chưa biết Thiền. Riêng Tập 2, Cuốn 2 được phát hành năm 2005 này chú trọng về thực hành. Ước mong của Thầy là giúp người chưa biết Thiền, muốn biết Thiền, có cơ hội thực tập theo Thiền Phật giáo thuộc 3 hệ: Nguyên Thủy, Phát Triển và Thiền Tông.
Q.H, Đạo tràng Paris rút tỉa, sắp xếp, cắt dán lại những thuật ngữ Thiền từ các sách mà Thầy đã xuất bản -
Trương Đăng Hiếu, Đạo tràng Nam Cali đánh máy, trình bày lại để làm tư liệu Anh chị thiền sinh cùng nhau tu học.
Bài Luận giảng này cho chúng ta biết rằng: điểm quan trọng bậc nhất của Thiền chỉ là làm chủ tâm ngôn. Không làm chủ được tâm ngôn, dù chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, đường Thiền của ta sẽ đến nơi bế tắc.
VIDEO Phóng Sự Kỳ Đo Não Bộ Hòa thượng THÍCH THÔNG TRIỆT
tại Đại học Tuebingen Đức Quốc năm 2013
- Giới thiệu: Quang Chiếu
- Quay phim: Tuệ Nguyên
- Edit: Chúc Hải
TỔNG KẾTCÔNG TRÌNHNGHIÊN CỨU GIỮA ĐẠI HỌC TÜBINGEN (GERMANY) VÀ HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG (USA)
TỪ 2007 ĐẾN 2013 VỀ ĐỀ TÀI “ TƯƠNG QUAN THỰC NGHIỆM GIỮA THIỀN VÀ CÁC ĐỊNH KHU NÃO BỘ
Năm 2010, Thầy Thiền chủ Thích Thông Triệt đã cho phát hành quyển sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học. Thầy mượn thiết bị hay phương tiện Khoa học Tây phương để chứng minh lời dạy hay Pháp của Đức Phật, thật sự đã tác động vào đâu trên vỏ não, trong giữa não, trên hệ thần kinh tự quản, trong tuyến nội tiết. Người hành Thiền sẽ có kinh nghiệm như thế nào trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh của chính mình trong khi thực hành Thiền.
Các ông đều trình bày đúng theo kinh nghiệm của mỗi vị. Còn đây là câu trả lời của ta:
“Tỷ-kheo sau khi đi khất thực và thọ trai về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.'' Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Sau khi nhận ra rõ ràng sự hiện hữu của thiên nhiên và con người trên thế gian, do nhân và duyên mà có mặt, lại do nhân và duyên mà thay đổi và biến mất rồi lại tái sinh, dòng sống của con người và thiên nhiên cứ tuôn chảy mãi như thế không ngừng, người ẩn sĩ cô độc trong khu rừng già bên bờ sông Nerañjarā (có khi viết là Niranjana) giờ đây đã thấy rõ tất cả những diễn tiến trong đời, đã tháo gở ra tất cả các sự rối ren phiền muộn từng ấp ủ ray rứt trong tâm.
Ngày qua ngày, trăng từ từ khuyết rồi biến mất trong màn đêm, rồi trăng lại từ từ lên, lại tròn hơn. Dòng tâm của ngài tuôn chảy trong hơn, trong hơn, hỷ lạc từ từ nhẹ nhàng, chỉ là an lạc, rồi thanh thản, trầm lặng, không còn thân, không còn tâm. Tại sao ta có mặt ở đây? Vì đời trước ta đã có mặt, đã sống như thế. Tại sao đời trước ta như thế? Vì đời trước nữa ta đã như thế v.v…
Sáng nay, thái tử ngồi một mình dưới bóng mát tàn cây jambu, thả tầm mắt nhìn xuống khoảng không gian tươi mát, cây lá xanh xanh, hoa nở, âm thanh tiếng trống bập bùng, tiếng kèn trầm bổng vang lên từ cánh đồng, bao nhiêu màu sắc xanh đỏ trắng vàng qua qua lại lại.
Hôm nay vẽ lại bức tranh Lumbini này, tâm cũng còn thấy ngậm ngùi. Thương đời, thương mình. Nhớ khi xưa, từ năm 2.000, lần đầu được tham gia chuyến hành hương Ấn Độ- Nepal, do Thầy Thiền Chủ của mình tổ chức. Lần đầu tới thánh tích Lumbini, ngôi đền thờ hoàng hậu Māyā lúc ấy sơn toàn màu hồng hồng của gạch nung...
Trong thế giới Phật giáo, có lẽ có 3 mùa xuân được nhiều người con Phật tưởng nhớ nhiều nhất là mùa xuân thái tử Siddhattha chào đời, mùa xuân ngài giác ngộ và mùa xuân ngài nhập diệt.
Mãi ngắm nhìn ngọn lửa mà ý cứ tuôn tràn, không hay ngọn lửa từ từ nhỏ lại, rồi cuối cùng tắt mất. Củi hết thì lửa tắt. Vậy ngọn lửa đi đâu? Có lửa hay không có lửa?
Nếu mình sống bình thường, thì an lạc, đâu có đau hay khổ. Tại mình không có chánh niệm tỉnh giác, mới bị cái dầm, bên ngoài, là thứ dơ bẩn, nguy hiểm, dù cho nhỏ bé, cũng làm cho mình đau, mình khổ.”
Nhận biết Thiền lúc nào là vô vi pháp, lúc nào là hữu vi pháp. Khi mình tập Thiền, theo giờ giấc nhất định, ngồi đúng tư thế, có kỹ thuật để dụng công, có cố gắng hay tác ý dụng công, đó là pháp có điều kiện, là hữu vi pháp, kết quả giới hạn. Khi sống bình thường, tùy hoàn cảnh ứng xử tự nhiên, thì là sống Thiền, là pháp vô vi, không cần điều kiện, tức là sống tùy duyên thuận pháp, hay để cho các pháp tự vận hành. Điều này thiệt đơn giản, trong đời, có nhiều khi mình đã sống đúng như vậy, nhưng mình không nhận ra thôi.
Cửa nào cũng có thể đi vào Đạo. Nhưng thiệt ra Đức Phật Thích Ca đã đi bằng cửa nào?
Đây là câu hỏi chủ ý của bài viết này. Đức Phật Thích Ca đã dùng phương tiện nào để đạt 4 tầng Thiền dễ dàng như vậy?
Những dấu chân dài dài trên bờ biển Tuy Hòa hôm ấy, những dấu chân chập choạng in trên bãi cát vàng nâu, chỉ một thoáng, sóng trắng xóa tung tăng tràn vào, rồi rút lui ra biển, còn lại gì đâu, mặt cát phẳng lì, dấu chân biến mất. Nhưng kìa, ta lại bước đi, dấu chân lại in trên cát, và rồi sóng biển tràn vào, bãi cát phẳng lì, ta vẫn cứ đi, mãi mãi là người đi một mình, không để lại dấu vết.
Muốn đạt được kết quả tốt, người thực hành phải hội đủ 5 tiêu chuẩn cần thiết: Tự lực, Nhu cầu, Quyết tâm, Lý thuyết, và Lý luận. Đây là 5 tiêu chuẩn lập thành hệ thống lý luận thực tiễn trong việc thực hành Thiền Phật giáo. Muốn điều chỉnh thân, cải tạo tâm, cân bằng thân-tâm, và phát huy trí tuệ tâm linh có hiệu quả, 5 tiêu chuẩn nói trên không thể tách rời nhau được.
Cốt lõi là cái tinh túy, cái tinh ba. Chớ không phải cái bề ngoài. Nếu so với cái cây, nó không phải là lá cây, cành cây.v.v. mà là cái lõi bên trong của cây. Cái cốt lõi đó phải ngắn gọn, mới gọi là cốt lõi. Mà trong đạo Phật có nhiều cốt lõi lắm. Tại sao vậy?
Chinese Chan Buddhism is regarded as having begun with its First Patriarch, Bodhidharma, an Indian monk, via the “lion’s roar” awakened people to return to their original mind and recognize their inherent nature—empty, quiescent, and luminous.
So hat Buddha gelehrt: „Seid euch selbst ein Licht, dem ihr folgen könnt. Nehmt zur Wahrheit Zuflucht . Verlasst euch auf niemanden und nichts anderes!. Denn alles ist vergänglich“.
All the sects and sub-lineages in these two great transmission traditions have preserved the essential teachings of the Buddha and share the same ultimate goal: liberation from suffering, enlightenment, and self-emancipation.
The Buddha taught the last wholehearted words before leaving this world: “Be a lamp unto yourself.” “Rely only upon the Dharma.” “Do not depend upon anyone or anything else.” “ Because ‘Everything in this world is impermanent’. ”
Wir nennen sie die Motten „selbstverbrennende Insekten“, weil sie direkt ins Licht fliegen und tot zu Boden fallen, sobald sie die heiße Glühbirne berühren. Ich frage mich, welcher Instinkt sie dazu treibt und warum sie vom Licht angezogen werden. Warum fliegen sie immer wieder in die Glühbirne, obwohl sie sehen, wie andere Motten dabei ums Leben sterben?
Chapter 14, titled "Detachment from Forms to attain Tranquility," stands as one of the most vital and profound chapters within the Diamond Sutra. Its full name conveys that by letting go of all phenomenal forms and delusive thoughts, one can attain the state of ultimate stillness and cessation (Nirvana).
Wherever coming, why did Venerable Bhaddiya keep saying, “Oh, peaceful indeed”? The other monks looked around, seeing only a quiet forest, a tree bottom, or an empty hut, and could not understand. They assumed Bhaddiya was recalling his luxurious royal life. This shows the worldly habit of common people projecting on their own subjective thinking.
Both "The Mu Koan" (in Japanese Zen Buddhism, especially the Rinzai school) and the "No-Talk" Technique (belonging to the Sunyata Meditation of Venerable Thich Thong Triet, a modern Vietnamese tradition rooted in Abhidharma and Nikāya) aim for a common goal: the direct realization of the Awareness Nature beyond words and concepts. However, their methods and psycho-cognitive contexts fundamentally differ.
Dans la pratique du Méditation, la méthode de relaxation de l’esprit ou de relaxation des pensées constitue une partie essentielle dans la création d’une réponse biologique immédiate permettant de guérir les maladies psychosomatiques et la neurasthénie. Elle est l’antidote à la dépression (stress), aux troubles émotionnels et elle rétablit les dysfonctionnements du système nerveux.
A person’s life is also like a constantly flowing stream, never stopping. Everything, health, youth, happiness, loved ones, all flows forward in a one-way direction: birth-aging-sickness-death, or in another way: arising-existing-decaying-disappearing. This one-way path means that once something has passed, it never returns exactly as it was.
We use cookies to help us understand ease of use and relevance of content. This ensures that we can give you the best experience on our website. If you continue, we'll assume that you are happy to receive cookies for this purpose.